Hai Tờ Giấy Bạc (Ngân Hàng V.N.C.H.)
Song Trang
Tờ trên, số S2 180230 (tại Hoa Kỳ) và tờ dưới, số S2 180231 (từ Việt Nam gởi đến)
Các nhà Lập Pháp Hoa Kỳ, quả thật đã có nhiều sáng kiến! Hầu hết những ngày lể chính thức -
kể cả ngày sinh nhựt của những vị Tổng Thống - cũng được du-di để ghép với ngày cuối tuần. Do đó, cứ vài ba tháng, chúng ta có một cuối tuần kèm theo ngày lễ, làm cho thời gian nghỉ ngơi dài hơn thường lệ. Đây là một việc làm hữu ích có tác dụng tâm lý đối với mọi công dân, vì họ sẽ có thì giờ rảnh rang dài hơn, nhờ đó họ có thể hoặc đi thăm thân nhân, bạn bè ở xa hoặc tổ chức một cuộc du lịch ngắn hạn cho gia đình; và thứ đến là giúp cho nền kinh tế phát đạt thêm qua các dịch vụ cung cấp cho người dân trong thời gian họ nghỉ lễ.
Nền kinh tế của xứ sở nầy được điều hành một cách rất là khoa học, rất là Mỹ! Không như tại các quốc gia khác, người dân phải chi thêm một số tiền nào đó trong dịp lễ vì hầu như mọi phẩm vật nói chung, đều tăng giá không nhiều thì ít. Trong khi đó, phần lớn nhu cầu ẩm thực và du hí của dân chúng Mỹ đều - on sale - vì số cung nhiều hơn số cầu. Tại Mỹ, nếu chúng ta là người tiêu thụ, thì cái lợi về phần mình, nếu chúng ta mua hàng với số lượng nhiều. Qua sau lễ, phần lớn hàng hóa sẽ trở lại giá bình thường - regular price - có thể là từ 20 phần trăm cao hơn.
Trước khi về nhà để chuẩn bị cho "holiday weekend," người Giao Thơ (Bưu Tá) cũng tranh thủ giao thơ cho xong để về cho sớm. Tuy vậy, tôi cũng phải chờ quá trưa tôi mới ra lục thùng thơ. Ngoài một xấp quảng cáo, có một cái thơ lạ hoắc, nhật ấn đóng trên bì thơ là của một thành phố ở miền đông nước Mỹ. Trên đường đi về nhà, vừa đi tôi vừa bóc thơ ra xem. Trong thơ có một tờ giấy bạc một ngàn đồng - hình Dinh Độc Lập - của Việt Nam Cộng Hòa và một mãnh giấy nhỏ có hàng chữ của máy in: "Hãy chịu khó ôn trí nhớ để tìm xem sự luân lưu của tờ giấy bạc nầy ra sao. Nếu chịu thua, thì hãy lên lưới DiemHong.net sẽ rõ.
Thời kỳ kỷ thuật cao có khác! Việc gì liên hệ tới người thứ hai, hoặc nhiều hơn, là cứ rủ nhau lên mạng lưới toàn cầu để mà tán gẩu!
Trong mười năm sau cùng của Việt Nam Cộng Hòa, đó cũng là thòi gian mà loại giấy bạc 500 đồng, mà người dân thường ví von là tờ Đức Thánh Trần, và tờ 1000 đồng (hình Dinh Độc Lập) đang lưu hành trong thời lạm phát phi mã. Tôi không mấy khi trực tiếp cầm tiền mua sắm hay đưa cho ai vì mọi nhu cầu trong gia đình đều do bà nhà tôi quán xuyến. Tuy nhiên vì tự trọng, tôi cũng cố moi trong trí tìm xem xuất xứ của tờ bạc nầy từ đâu. Sự kiện cứ như một huyền thoại, còn tôi thì cũng muốn thử trí nhớ xem sao. Thao thức gần như suốt đêm, với nhiều câu hỏi khác nhau nhưng cuối cùng thì đành chịu thôi! Không một câu trả lời nào hợp lý cả. Cuối cùng, tôi cũng đành chịu thua để vào Website đã ghi trên mảnh giấy được kèm theo tờ giấy bạc.
Không một lời nhắn nào rõ ràng. Chỉ có bài viết, tựa đề: "Những Buổi Chiều Còn Lại" trong tập truyện Ở Một Nơi Dễ Tìm Thấy Thiên Đường của Huỳnh Văn Phú, xuất bản năm 1995 tại Hoa Kỳ. Đại khái cốt truyện sơ lược lại một câu chuyện của một nữ sinh viên trường Luật Khoa ở Sài gòn - cô Nga -, đi ủy lạo các anh chiến sĩ xa nhà nhân dịp Tết; với một sĩ quan xuất thân Khóa XXII trường Võ Bị Quốc Gia Đà-Lạt - trung úy Thạch -, đang phục vụ tại một đơn vị Cọp Biển, lúc đó đang trú đóng tại cổ thành Quảng Trị, sau khi "đoạt lại" địa danh nầy từ tay quân xâm lăng Bắc Việt.Thư từ qua lại một thời gian, hai người đã có cảm tình với nhau nhưng chưa "thố lộ" được những điều họ muốn nói vì sợ rằng "không đủ ý lời!"
Thế rồi chiến sự leo thang! Không một chiến sĩ nào được rời phòng tuyến, ngay cả công tác vệ sinh cá nhân cũng đã là nan giải huống chi là ra phố. Vậy thì làm sao để có một "thiệp chúc Tết" gởi về cho cô bạn gái ở Sài gòn? Trung úy Thạch bèn móc trong bóp ra một tờ giấy bạc và dùng nó vào dịp đầu Xuân nầy. Không ngờ, tờ giấy bạc đó đã trở thành một món quà trân quý và Nga đã giử nó như một kỷ niệm khó quên.
Các nhà Lập Pháp Hoa Kỳ, quả thật đã có nhiều sáng kiến! Hầu hết những ngày lể chính thức -
kể cả ngày sinh nhựt của những vị Tổng Thống - cũng được du-di để ghép với ngày cuối tuần. Do đó, cứ vài ba tháng, chúng ta có một cuối tuần kèm theo ngày lễ, làm cho thời gian nghỉ ngơi dài hơn thường lệ. Đây là một việc làm hữu ích có tác dụng tâm lý đối với mọi công dân, vì họ sẽ có thì giờ rảnh rang dài hơn, nhờ đó họ có thể hoặc đi thăm thân nhân, bạn bè ở xa hoặc tổ chức một cuộc du lịch ngắn hạn cho gia đình; và thứ đến là giúp cho nền kinh tế phát đạt thêm qua các dịch vụ cung cấp cho người dân trong thời gian họ nghỉ lễ.
Nền kinh tế của xứ sở nầy được điều hành một cách rất là khoa học, rất là Mỹ! Không như tại các quốc gia khác, người dân phải chi thêm một số tiền nào đó trong dịp lễ vì hầu như mọi phẩm vật nói chung, đều tăng giá không nhiều thì ít. Trong khi đó, phần lớn nhu cầu ẩm thực và du hí của dân chúng Mỹ đều - on sale - vì số cung nhiều hơn số cầu. Tại Mỹ, nếu chúng ta là người tiêu thụ, thì cái lợi về phần mình, nếu chúng ta mua hàng với số lượng nhiều. Qua sau lễ, phần lớn hàng hóa sẽ trở lại giá bình thường - regular price - có thể là từ 20 phần trăm cao hơn.
Trước khi về nhà để chuẩn bị cho "holiday weekend," người Giao Thơ (Bưu Tá) cũng tranh thủ giao thơ cho xong để về cho sớm. Tuy vậy, tôi cũng phải chờ quá trưa tôi mới ra lục thùng thơ. Ngoài một xấp quảng cáo, có một cái thơ lạ hoắc, nhật ấn đóng trên bì thơ là của một thành phố ở miền đông nước Mỹ. Trên đường đi về nhà, vừa đi tôi vừa bóc thơ ra xem. Trong thơ có một tờ giấy bạc một ngàn đồng - hình Dinh Độc Lập - của Việt Nam Cộng Hòa và một mãnh giấy nhỏ có hàng chữ của máy in: "Hãy chịu khó ôn trí nhớ để tìm xem sự luân lưu của tờ giấy bạc nầy ra sao. Nếu chịu thua, thì hãy lên lưới DiemHong.net sẽ rõ.
Thời kỳ kỷ thuật cao có khác! Việc gì liên hệ tới người thứ hai, hoặc nhiều hơn, là cứ rủ nhau lên mạng lưới toàn cầu để mà tán gẩu!
Trong mười năm sau cùng của Việt Nam Cộng Hòa, đó cũng là thòi gian mà loại giấy bạc 500 đồng, mà người dân thường ví von là tờ Đức Thánh Trần, và tờ 1000 đồng (hình Dinh Độc Lập) đang lưu hành trong thời lạm phát phi mã. Tôi không mấy khi trực tiếp cầm tiền mua sắm hay đưa cho ai vì mọi nhu cầu trong gia đình đều do bà nhà tôi quán xuyến. Tuy nhiên vì tự trọng, tôi cũng cố moi trong trí tìm xem xuất xứ của tờ bạc nầy từ đâu. Sự kiện cứ như một huyền thoại, còn tôi thì cũng muốn thử trí nhớ xem sao. Thao thức gần như suốt đêm, với nhiều câu hỏi khác nhau nhưng cuối cùng thì đành chịu thôi! Không một câu trả lời nào hợp lý cả. Cuối cùng, tôi cũng đành chịu thua để vào Website đã ghi trên mảnh giấy được kèm theo tờ giấy bạc.
Không một lời nhắn nào rõ ràng. Chỉ có bài viết, tựa đề: "Những Buổi Chiều Còn Lại" trong tập truyện Ở Một Nơi Dễ Tìm Thấy Thiên Đường của Huỳnh Văn Phú, xuất bản năm 1995 tại Hoa Kỳ. Đại khái cốt truyện sơ lược lại một câu chuyện của một nữ sinh viên trường Luật Khoa ở Sài gòn - cô Nga -, đi ủy lạo các anh chiến sĩ xa nhà nhân dịp Tết; với một sĩ quan xuất thân Khóa XXII trường Võ Bị Quốc Gia Đà-Lạt - trung úy Thạch -, đang phục vụ tại một đơn vị Cọp Biển, lúc đó đang trú đóng tại cổ thành Quảng Trị, sau khi "đoạt lại" địa danh nầy từ tay quân xâm lăng Bắc Việt.Thư từ qua lại một thời gian, hai người đã có cảm tình với nhau nhưng chưa "thố lộ" được những điều họ muốn nói vì sợ rằng "không đủ ý lời!"
Thế rồi chiến sự leo thang! Không một chiến sĩ nào được rời phòng tuyến, ngay cả công tác vệ sinh cá nhân cũng đã là nan giải huống chi là ra phố. Vậy thì làm sao để có một "thiệp chúc Tết" gởi về cho cô bạn gái ở Sài gòn? Trung úy Thạch bèn móc trong bóp ra một tờ giấy bạc và dùng nó vào dịp đầu Xuân nầy. Không ngờ, tờ giấy bạc đó đã trở thành một món quà trân quý và Nga đã giử nó như một kỷ niệm khó quên.
Nga đã rời khỏi nước cùng với bố mẹ cũng như một số người liên hệ với Mỹ trước khi cộng quân chiếm Sài Gòn. Những ngày đầu di tản sang Hoa Kỳ, Nga phải làm việc vất vả để giúp ổn định việc định cư của gia đình và sau đó mới tiếp tục đi học lại môn chính bị gián đoạn vì quốc nạn 30-4-1975. Nga tốt nghiệp Luật sư năm 1987 và gia nhập tổ hợp Luật Sư tại địa phương nàng ở để hành nghề.
Số phận của trung úy Thạch cũng như những sĩ quan khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau ngày 30-4-1975, là bị lùa vào các trại tù đưộc mệnh danh là"Trại Cải Tạo!" và trong suốt 9 năm trời, được chuyển từ trại nầy qua trại khác, từ Nam chí Bắc. Lúc cộng sản trả Thach về cho gia đình thì anh chỉ còn da bọc xương, người không ra người, ngợm không ra ngợm. Gia đình anh chạy lo chửa trị bệnh, tẩm bổ cho anh lấy lại sức thì cũng vừa đúng lúc chính phủ Mỹ ban hành "Chiến dịch Nhân Đạo - Human Operation, gọi tắt là H.O." để đón những tù cải tạo sang định cư tại Mỹ.
Nhờ gặp lại Phước, người anh của Nga, tại một Plaza. Sau giây phút ngỡ ngàng, hai người - Phước và Thạch - nhận ra nhau. Họ đưa nhau vào một tiệm nước gần đó để hàn huyên, tâm sự. Và cũng nhờ cơ may nầy, mà sự liên lạc giửa Nga và Thạch được tái lập.
Số phận của trung úy Thạch cũng như những sĩ quan khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau ngày 30-4-1975, là bị lùa vào các trại tù đưộc mệnh danh là"Trại Cải Tạo!" và trong suốt 9 năm trời, được chuyển từ trại nầy qua trại khác, từ Nam chí Bắc. Lúc cộng sản trả Thach về cho gia đình thì anh chỉ còn da bọc xương, người không ra người, ngợm không ra ngợm. Gia đình anh chạy lo chửa trị bệnh, tẩm bổ cho anh lấy lại sức thì cũng vừa đúng lúc chính phủ Mỹ ban hành "Chiến dịch Nhân Đạo - Human Operation, gọi tắt là H.O." để đón những tù cải tạo sang định cư tại Mỹ.
Nhờ gặp lại Phước, người anh của Nga, tại một Plaza. Sau giây phút ngỡ ngàng, hai người - Phước và Thạch - nhận ra nhau. Họ đưa nhau vào một tiệm nước gần đó để hàn huyên, tâm sự. Và cũng nhờ cơ may nầy, mà sự liên lạc giửa Nga và Thạch được tái lập.
Ở đoạn kết thì hai người, Nga và Thạch, gặp lại nhau tại một điểm hẹn của một thành phố miền Tây nước Mỹ, nơi Thạch đang cư ngụ, từ khi anh "chinh phục" được Hoa Kỳ. Sau hơn 20 năm xa cách, giờ đây gặp lại, mỗi người một hoàn cảnh xã hội khác nhau. Nga là một Luật sư đang hành nghề tại Trung Tây nước Mỹ. Còn anh Thạch, sau 9 năm trong trại cải tạo của Cộng Sản Việt Nam, anh và gia đình vừa đến Mỹ được vài năm, với hai bàn tay trắng. Với trang sức thật lộng lẩy, Nga nói với Thạch: Hôm nay là ngày rất đặc biệt nên em phải trang điểm khác hơn thường lệ để đến chào mừng anh! Nga kèm theo câu nói thật dí dỏm làm Thạch cảm thấy như thời gian bị đảo ngược về 20 năm trước: Thế mà em cứ tưởng là gặp lại anh trong nhung phục Cọp Biển, oai phong lẩm liệt như ngày nào chứ! Còn Thạch, tuy cũng đã cố gắng chuẩn bị sao cho dung nhan mình không đến nổi...trong bộ y phục "garage sale," dĩ nhiên là kích thước không đúng như mình muốn! Rất tiếc...Muốn lắm, nhưng nay còn đâu! Thạch đáp với giọng nói đầy xúc động.
Trong bữa cơm, ngoài câu chuyện qua lại của hai cảnh đời Nga và Thạch, trong suốt hơn hai mươi năm qua, vui buồn lẫn lộn. Nga lấy từ trong xách tay một tờ giấy bạc, vẫn còn nguyên vẹn như lúc nhận, đưa cho Thạch và nói: Anh thấy không. Cái thiệp chúc Tết mà anh đã gởi cho em trước khi Miền Nam rơi vào tay cộng quân, em vẫn giử gìn nó nguyên vẹn. Bây giờ, anh đã trở về bình an theo lời cầu nguyện của em. Vì vậy, em xin gởi nó lại cho anh vì em nghĩ nó không còn là một kỷ vật đối với em nữa!
Xin Quý đọc giả vui lòng viết hộ đoạn kết.
Đa tạ
*
* *
* *
Tôi cố hồi tưởng xem tôi đã đưa tờ giấy bạc có hình Dinh Độc Lập của VNCH nầy cho ai, ở đâu, lúc nào và mục đích gì, nhưng vô hiệu! Trong đời người, tiền bạc luân lưu từ tay người nầy qua tay người khác biết bao nhiêu lần, thì làm sao nhớ hết được, ngoại trừ nợ tiền chưa trả!
Tôi xem xét tờ giấy bạc rất kỷ nhưng không thấy bất cứ dấu vết hay bút tích nào trên cả hai mặt. Vậy thì tờ giấy bạc nầy, của ai gởi cho tôi với dụng ý gì? Câu chuyện tờ giấy bạc thay cho thiệp chúc tết của Thạch gởi cho Nga trên đây có ý nghĩa tương đồng nào với tờ giấy bạc mà tôi vừa nhận được? Bao nhiêu thắc mắc đang vây quanh thì.....
Tôi xem xét tờ giấy bạc rất kỷ nhưng không thấy bất cứ dấu vết hay bút tích nào trên cả hai mặt. Vậy thì tờ giấy bạc nầy, của ai gởi cho tôi với dụng ý gì? Câu chuyện tờ giấy bạc thay cho thiệp chúc tết của Thạch gởi cho Nga trên đây có ý nghĩa tương đồng nào với tờ giấy bạc mà tôi vừa nhận được? Bao nhiêu thắc mắc đang vây quanh thì.....
Một buổi chiều cuối tuần, tôi nhận được thư của một người mà 26 năm trước đây, nó và tôi, tự dưng nhận nhau như cha con - nghĩa bá/ nghĩa tử - mà không hề có liên hệ huyết thống hay chính thức nhìn nhận trên phương diện pháp lý. Nó là một đứa bé thiếu cha. Với tuổi đời non dại, tôi muốn đem đến cho nó một tình thương và luôn luôn nhắc nhở nó tình huyết thống nội ngoại, để sau nầy khi lớn lên nó không oán hờn ruột thịt của nó. Sự ràng buộc nầy kéo dài gần hai năm thì chúng tôi bị thất lạc nhau vào hôm có lệnh của Tổng Thống Thiệu ra lệnh bỏ Huế! Thư được trình bày rất khúc triết với lời lẽ như của một đứa con gái gởi cho một người cha. Tôi bồi hồi xúc động và đọc đi đọc lại nhiều lần.
Tôi cố hồi tưởng xem từ khi chia tay với Diễm Thuyên và Diễm Hồng khoảng 7 giờ tối 19.3.1975 tại Huế, thì việc gì đã xảy đến cho hai mẹ con nàng sau đó?
Số chín ( 9 ) tờ giấy bạc còn lại, tôi dằn túi để phòng hờ. Tróng thời gian di tản, từ Huế vô Cam Ranh, Nha Trang, Vũng Tàu, Sài Gòn, tôi đã lần hồi tiêu gần hết. Khi được cấp Giấy Chiếu Khán - Di tản Khẩn Cấp vào Mỹ Quốc - tôi biết chắc chắn là sẽ được lên C.141 để đi Mỹ, tôi móc hết tiền còn lại trong túi để cho trẻ con bên ngoài rào của Camp Davis, Tân Sơn Nhất. Lúc đến GUAM, tôi mỡ chiếc cặp giấy tờ để xem - trong lúc vội vàng - mình đã mang theo được những gì, thì trong đó có một tờ giấy bạc của Việt Nam Cộng Hòa còn sót lại. Tôi tự nhủ: Sau 48 năm là công dân và 29 năm quân vụ, chỉ còn vật nầy là tiêu biểu cho Việt Nam Cộng Hòa. Mình hãy giử nó lại như "Một Chút Gì Để Nhớ" của một thời mà mình từng đóng góp mồ hôi, nước mắt và ngay cả xương máu, để bảo vệ cho chính gia đình mình và phần Đất bị phân chia như "mảnh da beo". Lúc được thơ của Diễm Hồng, tôi nhớ trực đến tờ giấy bạc tôi còn giử làm kỷ niệm, cất giử trong tủ an toàn(Fire/Safe) cùng với những kỷ vật khác mang theo từ Việt Nam, tờ giấy bạc1000 đồng, hình Dinh Độc Lập, mang số 180230. Tờ giấy bạc mà Diễm Thuyên trả lại cho tôi vì nàng "chê" là con số chót đó tối như đêm 30 (hay là 30-4-1975), xui xẻo!
Phải chăng là.......
Tôi cố hồi tưởng xem từ khi chia tay với Diễm Thuyên và Diễm Hồng khoảng 7 giờ tối 19.3.1975 tại Huế, thì việc gì đã xảy đến cho hai mẹ con nàng sau đó?
Số chín ( 9 ) tờ giấy bạc còn lại, tôi dằn túi để phòng hờ. Tróng thời gian di tản, từ Huế vô Cam Ranh, Nha Trang, Vũng Tàu, Sài Gòn, tôi đã lần hồi tiêu gần hết. Khi được cấp Giấy Chiếu Khán - Di tản Khẩn Cấp vào Mỹ Quốc - tôi biết chắc chắn là sẽ được lên C.141 để đi Mỹ, tôi móc hết tiền còn lại trong túi để cho trẻ con bên ngoài rào của Camp Davis, Tân Sơn Nhất. Lúc đến GUAM, tôi mỡ chiếc cặp giấy tờ để xem - trong lúc vội vàng - mình đã mang theo được những gì, thì trong đó có một tờ giấy bạc của Việt Nam Cộng Hòa còn sót lại. Tôi tự nhủ: Sau 48 năm là công dân và 29 năm quân vụ, chỉ còn vật nầy là tiêu biểu cho Việt Nam Cộng Hòa. Mình hãy giử nó lại như "Một Chút Gì Để Nhớ" của một thời mà mình từng đóng góp mồ hôi, nước mắt và ngay cả xương máu, để bảo vệ cho chính gia đình mình và phần Đất bị phân chia như "mảnh da beo". Lúc được thơ của Diễm Hồng, tôi nhớ trực đến tờ giấy bạc tôi còn giử làm kỷ niệm, cất giử trong tủ an toàn(Fire/Safe) cùng với những kỷ vật khác mang theo từ Việt Nam, tờ giấy bạc1000 đồng, hình Dinh Độc Lập, mang số 180230. Tờ giấy bạc mà Diễm Thuyên trả lại cho tôi vì nàng "chê" là con số chót đó tối như đêm 30 (hay là 30-4-1975), xui xẻo!
Phải chăng là.......
Phụ đính: Thơ của Diễm Hồng
Philadelpha Mùa Vu Lan, Mậu Thìn
Kính thưa Bác,
Cách nay không lâu, con có gởi cho bác tờ giấy bạc 1000 đồng của Ngân Hàng Việt Nam Cộng Hòa, với dụng ý xem bác có nhớ việc gì đã liên quan đến nó hay không. Khi gởi nó đi rồi, con mới nhận ra là làm như vậy thật là vô ý thức vì đã làm cho bác phải suy nghĩ và phân vân không ít. Con xin bác tha lỗi cho con đã dại dột đùa dai như vậy, nghen bác!
Philadelpha Mùa Vu Lan, Mậu Thìn
Kính thưa Bác,
Cách nay không lâu, con có gởi cho bác tờ giấy bạc 1000 đồng của Ngân Hàng Việt Nam Cộng Hòa, với dụng ý xem bác có nhớ việc gì đã liên quan đến nó hay không. Khi gởi nó đi rồi, con mới nhận ra là làm như vậy thật là vô ý thức vì đã làm cho bác phải suy nghĩ và phân vân không ít. Con xin bác tha lỗi cho con đã dại dột đùa dai như vậy, nghen bác!
Thưa bác,
Theo má con nói lại với con là tờ giấy bạc đó ở trong một xấp giấy bạc mới toanh - có lẽ là 10 tờ - mà bác đã rút ra hai tờ để đưa cho má con, nhờ bà mua giùm nhãn lồng và mè xửng Huế (*) để gởi cho một người bạn ở Sài gòn. Má con nói hai ngàn thì nhiều quá nên bà đưa lại cho bác một tờ. Tuy nhiên, vì thấy tờ giấy bạc đang cầm trong tay còn mới quá, nên bà nảy ra ý định giử nó lại để dành. Bà nói đùa là xem nhóm số trên hai tờ giấy bạc để chọn số "may" ( như kiểu người ta đánh số đuôi của số Kiến Thiết, mặc dù bà không bao giờ chơi trò đó) Bà chọn tờ có số chót 31 vì bà cho rằng số 30 thì nó tốỉ như đêm ba mươi, không khác gi tình trạng của Miền Nam Việt Nam hiện thời, vì vậy nên bà đưa nó lại cho bác. Không ngờ câu nói đùa đó của bà lại là một điềm gở vì liền sau đó, tình hình chiến sự đột biến mãnh liệt và tình thế hổn độn xảy ra quá nhanh, xung quanh thảm họa bỏ Huế, nên má con không có cơ hội làm theo điều bác đã nhờ. Bà đã cất dấu tờ giấy bạc đó với hy vọng một ngày thanh bình nào đó, bà sẽ đưa lại cho bác, hoặc nếu không thì bà sẽ giử nó như một kỷ vật!
Theo má con nói lại với con là tờ giấy bạc đó ở trong một xấp giấy bạc mới toanh - có lẽ là 10 tờ - mà bác đã rút ra hai tờ để đưa cho má con, nhờ bà mua giùm nhãn lồng và mè xửng Huế (*) để gởi cho một người bạn ở Sài gòn. Má con nói hai ngàn thì nhiều quá nên bà đưa lại cho bác một tờ. Tuy nhiên, vì thấy tờ giấy bạc đang cầm trong tay còn mới quá, nên bà nảy ra ý định giử nó lại để dành. Bà nói đùa là xem nhóm số trên hai tờ giấy bạc để chọn số "may" ( như kiểu người ta đánh số đuôi của số Kiến Thiết, mặc dù bà không bao giờ chơi trò đó) Bà chọn tờ có số chót 31 vì bà cho rằng số 30 thì nó tốỉ như đêm ba mươi, không khác gi tình trạng của Miền Nam Việt Nam hiện thời, vì vậy nên bà đưa nó lại cho bác. Không ngờ câu nói đùa đó của bà lại là một điềm gở vì liền sau đó, tình hình chiến sự đột biến mãnh liệt và tình thế hổn độn xảy ra quá nhanh, xung quanh thảm họa bỏ Huế, nên má con không có cơ hội làm theo điều bác đã nhờ. Bà đã cất dấu tờ giấy bạc đó với hy vọng một ngày thanh bình nào đó, bà sẽ đưa lại cho bác, hoặc nếu không thì bà sẽ giử nó như một kỷ vật!
*
* *
* *
Để bác biết thêm chút ít về tình trạng má và con sau ngày 30-4-1975.
Sau khi vào Huế, một toán sáu bảy bộ đội Giải Phóng đến nhà gõ cửa. Hai mẹ con tuy sợ quá nhưng má vẫn phải ra mở cửa để xem họ muốn gì? Một người đàn ông trung niên, nói giọng Huế, mặc quân phục thật là oai phong lẫm liệt, theo sau có một nhóm cận vệ. Con đoán ông nầy có thể là cấp chỉ huy cao cấp. Con sợ qua, nép sau cánh cửa phòng ngủ và cố lắng nghe xem ông ấy nói những gì với má con.
Má con nói: Chào các ông!
Tướng VC nói: Diễm Thuyên (DT**) không nhận ra tôi sao? Anh là Hoàng Thanh Lâm, (HTL*#) láng giềng với DT lúc trước đây mà! Hồi đó, anh yêu em tha thiết và có đôi lần anh đã thố lộ với em về tình cảm của anh. Nhớ ra chưa?
DT: Ông thoát ly lâu quá rồi, chắc không còn một ai nhận ra ông. Nhưng mà, tôi đã có chồng, có con. Bây giờ, ông nói vấn đề tình cảm ấy của ông với tôi để làm gì?
Tứớng VC: Đơn giản thôi! Anh chờ đợi ngày nầy từ lâu. Anh mong là em đáp ứng lòng mong đợi của anh.
DT: Người đâu mà sổ sàng quá vậy! Các ông mang danh nghĩa "Giải Phóng" thì các ông nên làm theo ý nghĩa mà các ông cho là tốt đẹp đó. Đừng làm hoen ố mà mang tội "phản bội" nhân dân!
HTL bị chạm tự ái vì bị đàn bà mắng xéo, nên ông ấy nổi giận ra lệnh cho tùy tùng, gọi nhân viên Quản Lý Tài Sản Ngụy, cùng theo đoàn quân vào để làm "thủ tục tiếp thu và niêm phong" (Cướp cạn thì đúng hơn) ngôi nhà và tiệm thuốc Tây của má con.
Má hỏi ông HTL: Mẹ con tôi có tội gì với Giải Phóng mà quý ông làm như vậy?
Tướng VC: Cô hỏi tôi là cô mang tội gì à! Tội dùng hóa chất để đầu độc nhân dân. Tội buôn bán đầu cơ tích trử. Tội dan díu với ngụy quân, có chửa hoang, làm cho băng hoại xã hội...Chừng ấy đủ chưa?
DT: Nhưng tất cả những điều ông vừa nói là hồ đồ, là vô căn cứ. Thuốc Tây là để chữa trị bệnh.
Lấy chồng có cưới hỏi và sanh con. Vợ chồng chúng tôi không thuận tình với nhau nữa thì ly dị.
Đó là họp pháp đối với luật lệ của chúng tôi ở đây.
Sau khi vào Huế, một toán sáu bảy bộ đội Giải Phóng đến nhà gõ cửa. Hai mẹ con tuy sợ quá nhưng má vẫn phải ra mở cửa để xem họ muốn gì? Một người đàn ông trung niên, nói giọng Huế, mặc quân phục thật là oai phong lẫm liệt, theo sau có một nhóm cận vệ. Con đoán ông nầy có thể là cấp chỉ huy cao cấp. Con sợ qua, nép sau cánh cửa phòng ngủ và cố lắng nghe xem ông ấy nói những gì với má con.
Má con nói: Chào các ông!
Tướng VC nói: Diễm Thuyên (DT**) không nhận ra tôi sao? Anh là Hoàng Thanh Lâm, (HTL*#) láng giềng với DT lúc trước đây mà! Hồi đó, anh yêu em tha thiết và có đôi lần anh đã thố lộ với em về tình cảm của anh. Nhớ ra chưa?
DT: Ông thoát ly lâu quá rồi, chắc không còn một ai nhận ra ông. Nhưng mà, tôi đã có chồng, có con. Bây giờ, ông nói vấn đề tình cảm ấy của ông với tôi để làm gì?
Tứớng VC: Đơn giản thôi! Anh chờ đợi ngày nầy từ lâu. Anh mong là em đáp ứng lòng mong đợi của anh.
DT: Người đâu mà sổ sàng quá vậy! Các ông mang danh nghĩa "Giải Phóng" thì các ông nên làm theo ý nghĩa mà các ông cho là tốt đẹp đó. Đừng làm hoen ố mà mang tội "phản bội" nhân dân!
HTL bị chạm tự ái vì bị đàn bà mắng xéo, nên ông ấy nổi giận ra lệnh cho tùy tùng, gọi nhân viên Quản Lý Tài Sản Ngụy, cùng theo đoàn quân vào để làm "thủ tục tiếp thu và niêm phong" (Cướp cạn thì đúng hơn) ngôi nhà và tiệm thuốc Tây của má con.
Má hỏi ông HTL: Mẹ con tôi có tội gì với Giải Phóng mà quý ông làm như vậy?
Tướng VC: Cô hỏi tôi là cô mang tội gì à! Tội dùng hóa chất để đầu độc nhân dân. Tội buôn bán đầu cơ tích trử. Tội dan díu với ngụy quân, có chửa hoang, làm cho băng hoại xã hội...Chừng ấy đủ chưa?
DT: Nhưng tất cả những điều ông vừa nói là hồ đồ, là vô căn cứ. Thuốc Tây là để chữa trị bệnh.
Lấy chồng có cưới hỏi và sanh con. Vợ chồng chúng tôi không thuận tình với nhau nữa thì ly dị.
Đó là họp pháp đối với luật lệ của chúng tôi ở đây.
Tướng VC: Cô im đi và đừng có già mồm mà mang thêm tội xúc phạm cách mạng. Nói xong, ông ấy quay qua ra lệnh cho cán bộ Quản Lý Tài Sản Ngụy:"Hãy làm phận sự. Canh gác cẩn mật để tránh thất thoát. Đưa hai mẹ con mụ ni lên Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Bảo mụ ấy, hãy mang theo quần áo, đồ dùng tạm, đủ cho hai mẹ con." Má và con bị giam giử rất cẩn mật, dưới sự giám sát của ba công an viên Miền Bắc. Họ không cho tiếp xúc với bất cứ ai bên ngoài. (***) Má không những lo âu cho số phận của hai mẹ con mình mà bà thường nhắc nhở không biết bác và gia đình có được may mắn thoát khỏi hay không? Con nhớ bác, con khóc. Má mủi lòng khóc theo. Sau khoảng hai tuần, Ông HTL nhắm không thuyết phục được má con để làm vợ nên ông ấy uống rượu và giả vờ suồng sả với má con. Bác cũng có thể hình dung là trong một đêm mưa to gió lớn, tại một ngôi nhà vắng vẻ ở ngoại ô thành phố, một chinh nhân từ phương bắc đến, dùng quyền lực uy hiếp một người đàn bà xuân sắc, lại không chồng, tại một vùng vừa mới được bọn họ "giải phóng" thì dù cho người đàn bà bất hạnh nầy, dù có tận lực bình sinh để chống đở, cũng không làm sao thoát khỏi nanh vút của một con hổ đói, vừa vồ được con mồi! Với thân phận yếu đuối của người đàn bà đau khổ nầy, làm sao để bảo tồn được phẩm hạnh? Dù không chứng kiến tận mắt thái độ bạo ngược của viên tướng Bắc Việt nầy - người ta cũng có thể hình dung được sự thô bạo của y chẳng khác nào tướng Tô Định của quân Tàu ngày xưa!
Bị ông Lâm cưởng hiếp, má con buồn tủi khóc lóc liên miên! Cuối cùng, ông Lâm đưa trả má và con về giam lỏng tại nhà. Má nói với con: Thôi thì Định mệnh đã an bài! Giờ đây má không còn phải biết làm gì hơn trước một việc đã rồi! Má đành phải ưng thuận để làm vợ ông Lâm để cứu vãng gia đình và tài sản của mình và nhất là nhờ sự "bao che" của ông ta để con được tiếp tục đi học. Sự hy sinh nầy của má không phải là một giải pháp tốt, nhưng trong một hoàn cảnh đen tối của cả Miền Nam mình như lúc nầy, thì má không còn sự lựa chọn nào khác tốt hơn. (@)
Đầu năm 1985, Ba của con từ Mỹ gởi thơ về cho cho ông bà nội của con. Ông cho biết là ông đã đáp tàu Thương Tín qua đảo GUAM từ ngày 30-4-1975. Ba hỏi ý kiến má và con để ba lập thủ tục bảo lãnh theo diện Đoàn Tụ. Má không muốn đi, vì sẽ không giải quyết được trọn vẹn tài sản nhưng má vui vẽ đồng ý cho con đi vì bà nghĩ rằng qua Mỹ, con có cơ hội học hành thêm và có tương lai tốt hơn.
Con qua Mỹ từ năm 1987 và tiếp tục học. Tốt nghiệp Đại Học xong, con vô công dân Mỹ và sau đó lập gia đình. (Ba chồng của con cũng không xa lạ gì với bác đâu!) Chúng con về Việt Nam thăm má vào dịp Tết 1997. Má rất vui mừng. Con có xin phép má để đến vấn an và cảm ơn ông Lâm, vì dù sao, con cũng đã nhờ sự "bao che" của ông ấy nên con mới có cơ hội để tiếp tục đi học, làm vốn cho kiến thức ngày nay.
Hai hôm sau, hai vợ chồng con đến thăm ông Lâm. Sau khi chào hỏi xã giao, con tặng cho ông những món quà mà ông thích (Rượu Remy Martin, thuốc lá 555 và bộ dụng cụ để chơi quần vợt).
Ông Lâm không tỏ ra vui vẻ chút nào mà trái lại, ông chua chát nói: "Tôi cứ tưởng là sau một thời gian nào đó, má của cô sẽ trở thành người vợ như tôi mong ước! Nhưng, tôi đã lầm. Hơn hai mươi năm trôi qua, tôi mang tiếng là người có gia đình nhưng chưa bao giờ tôi và má cô cùng đi ra khỏi nhà với nhau! Bà không bao giời hỏi hay nói với tôi một điều gì mà chỉ trả lời cộc lốc khi tôi hỏi. Cơm ai nấy ăn, phòng ai nấy ngủ! Gặp nhau như người xa lạ! Ly dị cũng không thành vấn đề vì lấy nhau mà không hề có hôn thú! Năm tháng trôi qua, không biết chúng tôi đối với xã hội nầy, họ gọi tình trạng nầy là gì?"
Con lợi dụng lúc ông Lâm ngừng nói để qua loa an ủi ông và xin từ biệt. Trên đường về nhà, con cảm thấy xót xa cho má quá!
Má và con vào thăm bà con ở đường Hoàng Diệu, Đà Nẵng. Khi xe ngừng chờ đèn lưu thông ở
ngả Ba Cây Lan, má trông thấy chú Xây, tài xế của bác trước kia. Bà biểu ghé vào để bà hỏi thăm. Ông nầy mừng rỡ và mời má và con về nhà ông. Ông đưa cho má và con xem cái thơ chúc Tết năm vừa rồi của bác. Má và con đều rất cảm động khi trông thấy chữ ký của bác trên thơ chúc Tết đó. Con chép địa chỉ và số điện thoại của bác. Ông ấy bây giờ rất khá giả. Các con của ông học hành thành tài và có việc làm tốt. Ông khẩn khoảng mời má và con ở lại dùng cơm với gia đình ông. Trong bữa cơm, ông nhắc lại những hôm bác bận quá không lên Huế đón con được, bác "bắt" ông ấy đi đón con. Ông nói: Cô có phải là ruột thịt gì với ông TP đâu, thế mà ông quý cô như chính những người con gái của ông ấy vậy! Con cảm động quá, chảy nước mắt, buông đủa! Ông ấy đứng lên và đi quanh về phía con ngồi để lấy thêm nước cho khách, ông nói như phân bua với má con: Hăm mấy năm qua rồi mà tính tình của cô cũng vậy, không khác chút nào! Có lần, trên đường từ Dạ Lê lên đón cô, ông TP phải ngừng để nói chuyện với một người bạn ở Quân Trấn. Nhìn đồng hồ thấy trể, ông vội vàng xin lỗi người đó để lên đón cô. Dọc đường, ông ân hận và lo là nếu cô không thấy xe đến đón, cô đi bộ, lỡ gặp rủi ro thì không biết ăn nói làm sao! Lúc đến nơi, cô phụng phịu không chịu lên xe.Báo hại ông TP phải năng nỉ cô ráo nước miếng! Cô còn nhớ không? Con thực sự xúc động quá bác ơi!. Con không hiểu tại sao mà lúc đó con có diễm phúc quá vậy? Má con bà cũng cảm động nói: Trời ơi! Con tôi nhỏng nhẻo với người ta đến như vậy sao?
Ba tuần lễ qua nhanh, con chuẩn bị vô Sài Gòn để về lại Mỹ. Con hỏi má: Hay là để con về bàn tính với chồng của con rồi lập thủ tục để đón má qua Mỹ. Má nghĩ sao?
Muộn quá rồi con ơi! Má qua Mỹ bây giờ chỉ thêm gánh nặng cho con mà cũng có thể gây thêm rắc rối cho người ta mà thôi!
Nhưng ở đây, má sống như tự giam mình! Cuộc sống như vậy nào có hạnh phúc gì đâu! Làm sao các con yên tâm. À mà má vừa nói người ta là ai vậy má?
Thôi! con đừng hỏi thêm gì nữa. Số phần đã được an bài! Hai vợ chồng con hạnh phúc là má vui rồi. Các con cố gắng và khôn ngoan để bảo vệ và duy trì hạnh phúc, nghe con.
----------------------------------------------------------
(@ ) Con lấy làm lạ là tại sao ông HTL mang tội cưởng hiếp phụ nữ, sang đoạt tài sản của nhân dân mà không hề bị biện pháp kỷ luật hay chế tài nào của"Đảng" hay Luật Pháp Nhà Nước cả! Họ sống trên cả luật pháp!
---------------------------------------------------------
Trước khi lên xe để trở lại Mỹ, má con đưa tờ giấy bạc và dặn dò:
"Nếu hoàn cảnh cho phép, con gởi tờ giấy bạc nầy cho bác TP. Con không được tiết lộ với ông ấy bất cứ chi tiết nào liên quan đến má! Nói tới đây thì bà bị xúc động, nước mắt ràn rụa. Sao mà lúc nầy con thấy thương má quá chừng! Con ôm và an ủi má hồi lâu. Bà cố nén xúc động nói trong thổn thức: "Má xin gởi lại tờ giấy bạc nầy cho bác vì má không thực hiện được lời hứa! Má cũng muốn giử nó làm kỷ vật nhưng tự xét thấy mình không còn xứng đáng nữa!" Con hứa làm đúng lời má nghe con. (**##)"
Đầu năm 1985, Ba của con từ Mỹ gởi thơ về cho cho ông bà nội của con. Ông cho biết là ông đã đáp tàu Thương Tín qua đảo GUAM từ ngày 30-4-1975. Ba hỏi ý kiến má và con để ba lập thủ tục bảo lãnh theo diện Đoàn Tụ. Má không muốn đi, vì sẽ không giải quyết được trọn vẹn tài sản nhưng má vui vẽ đồng ý cho con đi vì bà nghĩ rằng qua Mỹ, con có cơ hội học hành thêm và có tương lai tốt hơn.
Con qua Mỹ từ năm 1987 và tiếp tục học. Tốt nghiệp Đại Học xong, con vô công dân Mỹ và sau đó lập gia đình. (Ba chồng của con cũng không xa lạ gì với bác đâu!) Chúng con về Việt Nam thăm má vào dịp Tết 1997. Má rất vui mừng. Con có xin phép má để đến vấn an và cảm ơn ông Lâm, vì dù sao, con cũng đã nhờ sự "bao che" của ông ấy nên con mới có cơ hội để tiếp tục đi học, làm vốn cho kiến thức ngày nay.
Hai hôm sau, hai vợ chồng con đến thăm ông Lâm. Sau khi chào hỏi xã giao, con tặng cho ông những món quà mà ông thích (Rượu Remy Martin, thuốc lá 555 và bộ dụng cụ để chơi quần vợt).
Ông Lâm không tỏ ra vui vẻ chút nào mà trái lại, ông chua chát nói: "Tôi cứ tưởng là sau một thời gian nào đó, má của cô sẽ trở thành người vợ như tôi mong ước! Nhưng, tôi đã lầm. Hơn hai mươi năm trôi qua, tôi mang tiếng là người có gia đình nhưng chưa bao giờ tôi và má cô cùng đi ra khỏi nhà với nhau! Bà không bao giời hỏi hay nói với tôi một điều gì mà chỉ trả lời cộc lốc khi tôi hỏi. Cơm ai nấy ăn, phòng ai nấy ngủ! Gặp nhau như người xa lạ! Ly dị cũng không thành vấn đề vì lấy nhau mà không hề có hôn thú! Năm tháng trôi qua, không biết chúng tôi đối với xã hội nầy, họ gọi tình trạng nầy là gì?"
Con lợi dụng lúc ông Lâm ngừng nói để qua loa an ủi ông và xin từ biệt. Trên đường về nhà, con cảm thấy xót xa cho má quá!
Má và con vào thăm bà con ở đường Hoàng Diệu, Đà Nẵng. Khi xe ngừng chờ đèn lưu thông ở
ngả Ba Cây Lan, má trông thấy chú Xây, tài xế của bác trước kia. Bà biểu ghé vào để bà hỏi thăm. Ông nầy mừng rỡ và mời má và con về nhà ông. Ông đưa cho má và con xem cái thơ chúc Tết năm vừa rồi của bác. Má và con đều rất cảm động khi trông thấy chữ ký của bác trên thơ chúc Tết đó. Con chép địa chỉ và số điện thoại của bác. Ông ấy bây giờ rất khá giả. Các con của ông học hành thành tài và có việc làm tốt. Ông khẩn khoảng mời má và con ở lại dùng cơm với gia đình ông. Trong bữa cơm, ông nhắc lại những hôm bác bận quá không lên Huế đón con được, bác "bắt" ông ấy đi đón con. Ông nói: Cô có phải là ruột thịt gì với ông TP đâu, thế mà ông quý cô như chính những người con gái của ông ấy vậy! Con cảm động quá, chảy nước mắt, buông đủa! Ông ấy đứng lên và đi quanh về phía con ngồi để lấy thêm nước cho khách, ông nói như phân bua với má con: Hăm mấy năm qua rồi mà tính tình của cô cũng vậy, không khác chút nào! Có lần, trên đường từ Dạ Lê lên đón cô, ông TP phải ngừng để nói chuyện với một người bạn ở Quân Trấn. Nhìn đồng hồ thấy trể, ông vội vàng xin lỗi người đó để lên đón cô. Dọc đường, ông ân hận và lo là nếu cô không thấy xe đến đón, cô đi bộ, lỡ gặp rủi ro thì không biết ăn nói làm sao! Lúc đến nơi, cô phụng phịu không chịu lên xe.Báo hại ông TP phải năng nỉ cô ráo nước miếng! Cô còn nhớ không? Con thực sự xúc động quá bác ơi!. Con không hiểu tại sao mà lúc đó con có diễm phúc quá vậy? Má con bà cũng cảm động nói: Trời ơi! Con tôi nhỏng nhẻo với người ta đến như vậy sao?
Ba tuần lễ qua nhanh, con chuẩn bị vô Sài Gòn để về lại Mỹ. Con hỏi má: Hay là để con về bàn tính với chồng của con rồi lập thủ tục để đón má qua Mỹ. Má nghĩ sao?
Muộn quá rồi con ơi! Má qua Mỹ bây giờ chỉ thêm gánh nặng cho con mà cũng có thể gây thêm rắc rối cho người ta mà thôi!
Nhưng ở đây, má sống như tự giam mình! Cuộc sống như vậy nào có hạnh phúc gì đâu! Làm sao các con yên tâm. À mà má vừa nói người ta là ai vậy má?
Thôi! con đừng hỏi thêm gì nữa. Số phần đã được an bài! Hai vợ chồng con hạnh phúc là má vui rồi. Các con cố gắng và khôn ngoan để bảo vệ và duy trì hạnh phúc, nghe con.
----------------------------------------------------------
(@ ) Con lấy làm lạ là tại sao ông HTL mang tội cưởng hiếp phụ nữ, sang đoạt tài sản của nhân dân mà không hề bị biện pháp kỷ luật hay chế tài nào của"Đảng" hay Luật Pháp Nhà Nước cả! Họ sống trên cả luật pháp!
---------------------------------------------------------
Trước khi lên xe để trở lại Mỹ, má con đưa tờ giấy bạc và dặn dò:
"Nếu hoàn cảnh cho phép, con gởi tờ giấy bạc nầy cho bác TP. Con không được tiết lộ với ông ấy bất cứ chi tiết nào liên quan đến má! Nói tới đây thì bà bị xúc động, nước mắt ràn rụa. Sao mà lúc nầy con thấy thương má quá chừng! Con ôm và an ủi má hồi lâu. Bà cố nén xúc động nói trong thổn thức: "Má xin gởi lại tờ giấy bạc nầy cho bác vì má không thực hiện được lời hứa! Má cũng muốn giử nó làm kỷ vật nhưng tự xét thấy mình không còn xứng đáng nữa!" Con hứa làm đúng lời má nghe con. (**##)"
Má con căn dặn đi lại nhiều lần là con không được tìm kiếm bác, cho dù rủi có ở trong cùng một thành phố. Con hỏi má tại sao vậy thì má trả lời không do dự: "Bản chất của Bác là lo cho người khác nhiều hơn là lo cho chính bản thân. Tuy rằng bác là người rất quán thông và dễ thích nghi, nhưng tại xứ người, hoàn cảnh khó khăn gấp bội! Vì vậy, nếu thương bác, thì con không nên tạo thêm cho bác mối lo về con và cũng có thể cả về má nữa, và điều đó sẽ làm cho má khó xử và đau lòng."
Con có hỏi ý kiến ba và chồng của con. Có lẽ ba con đã nghiền ngẩm trong suốt cuộc đời và ông ý thức thế nào là vai trò của một người cha nên ông biểu đồng tình với má con. Trong khi đó thì chồng của con lý luận rằng:
Lời thật khiến dễ mất lòng! Em hứa không giận anh thì anh mới nói.
Em hứa,
Những gì anh sắp nói là ở trong vị thế vô tư, tức là không bênh ai, bỏ ai. Khi má sanh ra một đứa con gái - tức là em - cả ông bà nội lẫn ba của em đều thất vọng vì lòng mong ước của họ là đứa bé đóï phải là con trai để nối dõi tông đường! Ngay từ giờ phút em chào đời, bên nội nói chung, ba của em nói riêng, đều lạnh nhạt vì theo họ, nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, đó là một tệ trạng phong kiến, trọng nam khinh nữ, đã làm cho má em, một lần nữa đau xót cho số phận mình, sau vụ bị ông bà ngoại bắt phải vu quy vì môn đăng hộ đối. Ba em đã không ngó ngàn gì tới gia đình và cuối cùng thì ông li dị và xin thuyên chuyển vô Sài Gòn để lập lại gia đình khác. Em thiếu hẵn tình thương yêu của ba từ ngày chào đời. Má phải vừa làm việc vừa đóng cả hai vai - cả cha lẫn mẹ -. Khi bác TP tới Huế, người quen biết duy nhứt là gia đình của ba má, nhưng rủi thay lúc đó ba má đã li dị, ba vô Sài Gòn, chỉ còn má và em ở nhà. Có lẽ, khi nhìn thấy em còn thơ dại mà lại gặp cảnh đơn côi nên bác TP nghĩ lại cảnh tình của mình, vì bổn phận nên phải phục vụ ở một nơi xa gia đình, nên ông muốn an ủi em, mà cũng là để giúp cho chính ông vơi được phần nào sự nhớ thương các con thơ dại ở nhà. Vì em ngoan và thông minh nên nhận thức của em rất nhạy, chẳng bao lâu, em quý mến và kính trọng bác như một người cha, trong khi đó bác TP cũng yêu thương em như con ruột của mình. Dạy dỗ, vui đùa, chiều chuộng khi em nũng nịu, đã làm cho má phải phân vân không ít. Bác đã giúp ông bà nội và cả ba em nữa nhận chân được giá trị yêu thương người thân thuộc và từ đó em nhận được tình thương của bên nội. Sở dĩ bây giờ ba không tỏ ra sốt sắn để khuyến khích em liên lạc với bác vì ông lo sợ sẽ bị mất em, một khi em tìm được bác, thì ông sẽ trở thành một cái bóng mờ, vì ông biết là em rất nặng lòng " ân nghĩa" với bác !
Làm con là phải vâng lời cha mẹ. Đó là truyền thống bất di bất dịch của xã hội ta, lúc chúng ta còn thơ ấu, ăn chưa no lo chưa tới. Bây giờ em đã lớn khôn và đã lập gia đình. Em có bổn phận và trách nhiệm của chính em và gia đình của em. Trong lời dặn dò của má là em không nên tìm cách liên lạc lại với bác - dù cho rủi hai người có cùng ở trong một thành phố đi nữa - nó tiềm ẩn một sự cay đắng nào đó, mà dù cho chúng ta có biết tường tận đi nữa, chúng ta cũng không nên xen vào.
Lời thật khiến dễ mất lòng! Em hứa không giận anh thì anh mới nói.
Em hứa,
Những gì anh sắp nói là ở trong vị thế vô tư, tức là không bênh ai, bỏ ai. Khi má sanh ra một đứa con gái - tức là em - cả ông bà nội lẫn ba của em đều thất vọng vì lòng mong ước của họ là đứa bé đóï phải là con trai để nối dõi tông đường! Ngay từ giờ phút em chào đời, bên nội nói chung, ba của em nói riêng, đều lạnh nhạt vì theo họ, nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, đó là một tệ trạng phong kiến, trọng nam khinh nữ, đã làm cho má em, một lần nữa đau xót cho số phận mình, sau vụ bị ông bà ngoại bắt phải vu quy vì môn đăng hộ đối. Ba em đã không ngó ngàn gì tới gia đình và cuối cùng thì ông li dị và xin thuyên chuyển vô Sài Gòn để lập lại gia đình khác. Em thiếu hẵn tình thương yêu của ba từ ngày chào đời. Má phải vừa làm việc vừa đóng cả hai vai - cả cha lẫn mẹ -. Khi bác TP tới Huế, người quen biết duy nhứt là gia đình của ba má, nhưng rủi thay lúc đó ba má đã li dị, ba vô Sài Gòn, chỉ còn má và em ở nhà. Có lẽ, khi nhìn thấy em còn thơ dại mà lại gặp cảnh đơn côi nên bác TP nghĩ lại cảnh tình của mình, vì bổn phận nên phải phục vụ ở một nơi xa gia đình, nên ông muốn an ủi em, mà cũng là để giúp cho chính ông vơi được phần nào sự nhớ thương các con thơ dại ở nhà. Vì em ngoan và thông minh nên nhận thức của em rất nhạy, chẳng bao lâu, em quý mến và kính trọng bác như một người cha, trong khi đó bác TP cũng yêu thương em như con ruột của mình. Dạy dỗ, vui đùa, chiều chuộng khi em nũng nịu, đã làm cho má phải phân vân không ít. Bác đã giúp ông bà nội và cả ba em nữa nhận chân được giá trị yêu thương người thân thuộc và từ đó em nhận được tình thương của bên nội. Sở dĩ bây giờ ba không tỏ ra sốt sắn để khuyến khích em liên lạc với bác vì ông lo sợ sẽ bị mất em, một khi em tìm được bác, thì ông sẽ trở thành một cái bóng mờ, vì ông biết là em rất nặng lòng " ân nghĩa" với bác !
Làm con là phải vâng lời cha mẹ. Đó là truyền thống bất di bất dịch của xã hội ta, lúc chúng ta còn thơ ấu, ăn chưa no lo chưa tới. Bây giờ em đã lớn khôn và đã lập gia đình. Em có bổn phận và trách nhiệm của chính em và gia đình của em. Trong lời dặn dò của má là em không nên tìm cách liên lạc lại với bác - dù cho rủi hai người có cùng ở trong một thành phố đi nữa - nó tiềm ẩn một sự cay đắng nào đó, mà dù cho chúng ta có biết tường tận đi nữa, chúng ta cũng không nên xen vào.
Thế hệ của cha mẹ chúng ta, quan niệm sống của họ khác xa với quan niệm sống của chúng ta hiện tại. Họ đề cao lý tưởng, mặc dù họ biết nó rất mơ hồ, trong khi chúng ta hấp thụ tư tưởng của xã hội dân chủ và nếp sống hiện đại nên chúng ta thực tế hơn. Vậy việc riêng của người lớn, tức là của má đối với bác ra sao, để theo thời gian, họ giải quyết với nhau. Em chịu ơn bác, em quý trọng và thương yêu bác, công lao dạy dỗ của bác trong thời niên thiếu của em, thế nào là chữ tín và tình thương, nó rất là quan trọng.Chính nhờ những đức tính nầy đã giúp em trên hai lãnh vực xã hội và gia đình. Anh yêu quý em nhiều là vì vậy. Đó là những lời chân thật nhất mà anh giúp em, để em có một nhận định cho công bằng. Bây giờ, em xử sự thế nào, đó là tùy em.
Anh nhứt thiên hạ mà! Em đồng ý và nghe lời anh hoàn toàn.
Thưa bác,
Sao mà chồng của con, anh ấy thuyết phục con dễ dàng quá vậy!
Ai thì con không dám nói chớ chồng của con, anh ấy luôn luôn đề cao con! Không phải anh ấy nịnh con vì con đẹp giống má đâu à nghen!
Tuần lễ trước Tết Trung Thu, con nhờ chồng con - anh Vân - đưa con xuống phố Tàu. Anh ấy lấy làm lạ, muốn biết xuống đó để làm gì. Con nói cứ đi, khi nào tìm được thứ em cần, thì anh sẽ rõ. Vào một tiệm Tàu, con mua trà Oolong và bánh Trung Thu. Anh Vân hỏi con mua những thứ đó cho ai? Con nói tuần tới đám giổ ông nội của anh. Lúc sinh tiền ông nội rất thích ăn bánh Trung Thu, nhưn "thập cẩm" và nhâm nhi trà ngon. Cuối tuần tới, mình đem về để cúng ông nội. Anh Vân rất đổi ngạc nhiên, không biết do đâu mà con biết chuyện đó trong khi chính anh ấy là cháu nội đích tôn mà không biết gì cả. Anh ấy cảm động quá, vội vàng ra xe, lấy khăn lau nước mắt, trong khi con đứng lại để trả tiền. Lúc lên xe, con thấy cặp mắt của anh ấy đỏ ngầu, con tưởng là bụi bay vô mắt nên con hỏi anh ấy có sao không. Không trả lời mà anh ấy gục đầu vào vai con, thổn thức nói: Em làm như thế nầy là em giành hết tình thương của ba má dành cho anh rồi! Có con dâu hiền và hiếu thảo thế nầy, chắc ba má cảm động và vui sướng lắm! Ai dạy em làm như vậy? Má em dạy đó. Con nói. Anh ấy nói: Ít ra là như vậy, chớ điều gì hay cũng do bác dạy em cả thì đâu là công bằng!! Con chống chế: Cái anh nầy vô duyên! Lúc đó em còn nhỏ quá, hơn nữa bác là đàn ông, biết gì về việc làm dâu mà dạy! Anh ấy cảm ơn con, và hôn lấy hôn để, làm con ngượng quá!
À mà còn chuyện nầy rất ngộ nghỉnh do chị Quỳnh Hương (QH) tạo ra. Khi về lại Mỹ, chị QH mới thuật lại cho con nghe như sau:
Nhân dịp bế mạc kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện xuống tại La Vang, chị QH đưa má của chị ấy về dự lễ. Trước khi đi, chị ấy điện thoại hỏi con về cái máy điện toán mà con đem về cho má hồi Tết năm trước. Con tình thiệt nói hết mọi chi tiết. Con không ngờ chị ấy bàn bạc với bác để cung cấp cương liệu và nhu liệu cần thiết hầu nâng cấp cái máy đó cho đủ khả năng điều hành một tiệm thuốc Tây. Chồng của chị Quỳnh Hương - Anh Toàn - đang làm việc cho hãng Douglas tại Seattle (Washington) cũng là một chuyên gia điện toán, nên việc thực hiện ý muốn của hai người không có gì là khó. Thêm bộ nhớ, đĩa cứng, DVD và CD Burner đã làm cho bà con ở Huế lé con mắt. Vừa hát Karaoké vừa làm việc, copy CD v.v. Lúc anh Toàn chạy thử CD của bác gởi về cho, má thấy hay quá nên má tỏ ra rất vui và khâm phục sự "hiện đại" của xứ người. Chị QH vô tình nói với má: "Dì mà vui như thế nầy, nếu ông ấy thấy được, chắc là ông hài lòng lắm." Má ngạc nhiên lay vai chị QH và hỏi: QH vừa nói ông ấy là ông nào? Biết mình nói lỡ lời, chị QH tìm cách nói quanh nhưng không được nữa rồi, nên chị QH nói: không lẽ cháu nói ông tướng của Dì ở đây! Má năn nỉ mải chị QH mới nói: Ai trồng khoai đất nầy! Còn ông nào khác nếu không phải là ông đại tá ngụy đang lưu vong ở bên Mỹ. Má cảm động quá, đi vào nhà sau để tránh những cái nhìn xoi mói của những người hiếu kỳ đang đứng trườc tiệm! Lúc má trở ra thì thấy chị QH đang nói điện thoại với bác: "Báo cáo với Ngài, việc ngài giao phó, tôi đã làm xong. Bà chủ rất hài lòng và cảm động đến khóc ròng, phải chạy ra nhà sau để lau nước mắt. Tội nghiệp bà quá phải không Ngài! QH (*)". Cúp phone. Má giành điện thoại không giây để gọi lại bác nhưng QH ngăn : Dì và bên đó không còn cùng một ngôn ngữ nữa rồi nên sẽ không nói được với nhau lời nào đâu, chỉ có nghẹn lời, nỉ non đẩm lệ thôi, đừng gọi vô ích!
Tại sao vậy hở bác?
Thưa Bác,
Anh Vân được Công Ty đề cử qua Milpitas - San Jose (California) để lo công việc thương vụ của họ. Chúng con bay qua San Jose và tạm trú ở đây, đi tham quan San Francisco và lên Berkeley thăm người bạn đang học để lấy Master ở đó. Trước khi về lại miền đông thì......
Không dấu gì bác! Một sáng Thứ Bảy mùa Hè 98, con dự định đến để vấn an bác và gia đình. Nhưng khi đến nơi, con thấy bác đang cắt cỏ còn bác gái đang săm soi mấy bụi hồng. Coi bộ hai ông bà hạnh phúc lắm! Hai vợ chồng con ngồi trong xe đậu bên kia đường, cùng nhìn qua, và cả hai đều đồng ý rằng cảnh nhà rất khang trang, cây cỏ xanh tươi, chứng tỏ hai ông bà đã cùng nhau chăm sóc vườn tược chu đáo lắm! Thấy bác mạnh khỏe và nhanh nhẹn khi điều khiển máy cắt cỏ rất là lành nghề, các con rất mừng. Bổng nhiên con thay đổi ý kiến và nói với anh Vân: Được như thế nầy là đủ rồi! Hai mươi năm trôi qua, bao nhiêu biến đổi, liệu lòng người có thay đổi ít nhiều gì không? Nếu các con xuống xe, đến chào hai bác, thì bác sẽ giới thiệu con với bác gái thế nào để bác gái không nghi ngờ con là "con rơi con rớt" của bác. Vô tình sự xuất hiện của con, sẽ gây ra sự bối rối cho bác và có thể làm cho gia đình bác mất vui phần nào!
Con sẽ viết thơ về xin lỗi má con vì con đã thất hứa nhưng có lẽ bà sẽ thông cảm và tha thứ cho hành động của con.
Kính chúc bác và quý quyến vạn an.
TB: Má của con thắc mắc: Tình hình trở nên cực kỳ nguy hiểm nên ba ngày trước khi bỏ Huế, bác đã âm thầm di tản chị QH về Sài Gòn và chị KC về Đà Nẵng. Nhưng tại sao bác không hề cho má con biết việc nầy. Phải chăngï ........
(##)Sau nầy con mới biết ông ấy là Hoàng Thanh Lâm, gốc Phú Cam. Nằm vùng rồi thoát ly ra Bắc. Ông là một cấp chỉ huy của quân đội Bắc Việt, từ Ashau vô tiếp thu Huế ngày 23-3-75.
Con, Diễm Hồng
*******************************************************
Phụ chú:
(*) Bạn mua hộp mè xửng ở Huế là bạn nghĩ nó được làm ở Huế, ở Vĩ Dạ, ở Kim Long, ở Truồi, ở Nam Phổ... ở đâu cũng được nhưng phải gần Huế, phải do những bàn tay có chút hơi hướm của Huế đụng vào, trộn bột, lăn mè...
Mè xửng, món quà đặc biệt của Huế, mua ở Huế nhưng có những chữ Made In Phú Nhuận thì dù có ngon cách mấy cũng không được. Cho dẫu những hạt mè dùng làm bánh mua ở miền Trung vào để làm mè xửng ở... Phú Nhuận cũng không được. Mè xửng là phải làm ở Huế.
Anh nhứt thiên hạ mà! Em đồng ý và nghe lời anh hoàn toàn.
Thưa bác,
Sao mà chồng của con, anh ấy thuyết phục con dễ dàng quá vậy!
Ai thì con không dám nói chớ chồng của con, anh ấy luôn luôn đề cao con! Không phải anh ấy nịnh con vì con đẹp giống má đâu à nghen!
Tuần lễ trước Tết Trung Thu, con nhờ chồng con - anh Vân - đưa con xuống phố Tàu. Anh ấy lấy làm lạ, muốn biết xuống đó để làm gì. Con nói cứ đi, khi nào tìm được thứ em cần, thì anh sẽ rõ. Vào một tiệm Tàu, con mua trà Oolong và bánh Trung Thu. Anh Vân hỏi con mua những thứ đó cho ai? Con nói tuần tới đám giổ ông nội của anh. Lúc sinh tiền ông nội rất thích ăn bánh Trung Thu, nhưn "thập cẩm" và nhâm nhi trà ngon. Cuối tuần tới, mình đem về để cúng ông nội. Anh Vân rất đổi ngạc nhiên, không biết do đâu mà con biết chuyện đó trong khi chính anh ấy là cháu nội đích tôn mà không biết gì cả. Anh ấy cảm động quá, vội vàng ra xe, lấy khăn lau nước mắt, trong khi con đứng lại để trả tiền. Lúc lên xe, con thấy cặp mắt của anh ấy đỏ ngầu, con tưởng là bụi bay vô mắt nên con hỏi anh ấy có sao không. Không trả lời mà anh ấy gục đầu vào vai con, thổn thức nói: Em làm như thế nầy là em giành hết tình thương của ba má dành cho anh rồi! Có con dâu hiền và hiếu thảo thế nầy, chắc ba má cảm động và vui sướng lắm! Ai dạy em làm như vậy? Má em dạy đó. Con nói. Anh ấy nói: Ít ra là như vậy, chớ điều gì hay cũng do bác dạy em cả thì đâu là công bằng!! Con chống chế: Cái anh nầy vô duyên! Lúc đó em còn nhỏ quá, hơn nữa bác là đàn ông, biết gì về việc làm dâu mà dạy! Anh ấy cảm ơn con, và hôn lấy hôn để, làm con ngượng quá!
À mà còn chuyện nầy rất ngộ nghỉnh do chị Quỳnh Hương (QH) tạo ra. Khi về lại Mỹ, chị QH mới thuật lại cho con nghe như sau:
Nhân dịp bế mạc kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện xuống tại La Vang, chị QH đưa má của chị ấy về dự lễ. Trước khi đi, chị ấy điện thoại hỏi con về cái máy điện toán mà con đem về cho má hồi Tết năm trước. Con tình thiệt nói hết mọi chi tiết. Con không ngờ chị ấy bàn bạc với bác để cung cấp cương liệu và nhu liệu cần thiết hầu nâng cấp cái máy đó cho đủ khả năng điều hành một tiệm thuốc Tây. Chồng của chị Quỳnh Hương - Anh Toàn - đang làm việc cho hãng Douglas tại Seattle (Washington) cũng là một chuyên gia điện toán, nên việc thực hiện ý muốn của hai người không có gì là khó. Thêm bộ nhớ, đĩa cứng, DVD và CD Burner đã làm cho bà con ở Huế lé con mắt. Vừa hát Karaoké vừa làm việc, copy CD v.v. Lúc anh Toàn chạy thử CD của bác gởi về cho, má thấy hay quá nên má tỏ ra rất vui và khâm phục sự "hiện đại" của xứ người. Chị QH vô tình nói với má: "Dì mà vui như thế nầy, nếu ông ấy thấy được, chắc là ông hài lòng lắm." Má ngạc nhiên lay vai chị QH và hỏi: QH vừa nói ông ấy là ông nào? Biết mình nói lỡ lời, chị QH tìm cách nói quanh nhưng không được nữa rồi, nên chị QH nói: không lẽ cháu nói ông tướng của Dì ở đây! Má năn nỉ mải chị QH mới nói: Ai trồng khoai đất nầy! Còn ông nào khác nếu không phải là ông đại tá ngụy đang lưu vong ở bên Mỹ. Má cảm động quá, đi vào nhà sau để tránh những cái nhìn xoi mói của những người hiếu kỳ đang đứng trườc tiệm! Lúc má trở ra thì thấy chị QH đang nói điện thoại với bác: "Báo cáo với Ngài, việc ngài giao phó, tôi đã làm xong. Bà chủ rất hài lòng và cảm động đến khóc ròng, phải chạy ra nhà sau để lau nước mắt. Tội nghiệp bà quá phải không Ngài! QH (*)". Cúp phone. Má giành điện thoại không giây để gọi lại bác nhưng QH ngăn : Dì và bên đó không còn cùng một ngôn ngữ nữa rồi nên sẽ không nói được với nhau lời nào đâu, chỉ có nghẹn lời, nỉ non đẩm lệ thôi, đừng gọi vô ích!
Tại sao vậy hở bác?
Thưa Bác,
Anh Vân được Công Ty đề cử qua Milpitas - San Jose (California) để lo công việc thương vụ của họ. Chúng con bay qua San Jose và tạm trú ở đây, đi tham quan San Francisco và lên Berkeley thăm người bạn đang học để lấy Master ở đó. Trước khi về lại miền đông thì......
Không dấu gì bác! Một sáng Thứ Bảy mùa Hè 98, con dự định đến để vấn an bác và gia đình. Nhưng khi đến nơi, con thấy bác đang cắt cỏ còn bác gái đang săm soi mấy bụi hồng. Coi bộ hai ông bà hạnh phúc lắm! Hai vợ chồng con ngồi trong xe đậu bên kia đường, cùng nhìn qua, và cả hai đều đồng ý rằng cảnh nhà rất khang trang, cây cỏ xanh tươi, chứng tỏ hai ông bà đã cùng nhau chăm sóc vườn tược chu đáo lắm! Thấy bác mạnh khỏe và nhanh nhẹn khi điều khiển máy cắt cỏ rất là lành nghề, các con rất mừng. Bổng nhiên con thay đổi ý kiến và nói với anh Vân: Được như thế nầy là đủ rồi! Hai mươi năm trôi qua, bao nhiêu biến đổi, liệu lòng người có thay đổi ít nhiều gì không? Nếu các con xuống xe, đến chào hai bác, thì bác sẽ giới thiệu con với bác gái thế nào để bác gái không nghi ngờ con là "con rơi con rớt" của bác. Vô tình sự xuất hiện của con, sẽ gây ra sự bối rối cho bác và có thể làm cho gia đình bác mất vui phần nào!
Con sẽ viết thơ về xin lỗi má con vì con đã thất hứa nhưng có lẽ bà sẽ thông cảm và tha thứ cho hành động của con.
Kính chúc bác và quý quyến vạn an.
TB: Má của con thắc mắc: Tình hình trở nên cực kỳ nguy hiểm nên ba ngày trước khi bỏ Huế, bác đã âm thầm di tản chị QH về Sài Gòn và chị KC về Đà Nẵng. Nhưng tại sao bác không hề cho má con biết việc nầy. Phải chăngï ........
(##)Sau nầy con mới biết ông ấy là Hoàng Thanh Lâm, gốc Phú Cam. Nằm vùng rồi thoát ly ra Bắc. Ông là một cấp chỉ huy của quân đội Bắc Việt, từ Ashau vô tiếp thu Huế ngày 23-3-75.
Con, Diễm Hồng
*******************************************************
Phụ chú:
(*) Bạn mua hộp mè xửng ở Huế là bạn nghĩ nó được làm ở Huế, ở Vĩ Dạ, ở Kim Long, ở Truồi, ở Nam Phổ... ở đâu cũng được nhưng phải gần Huế, phải do những bàn tay có chút hơi hướm của Huế đụng vào, trộn bột, lăn mè...
Mè xửng, món quà đặc biệt của Huế, mua ở Huế nhưng có những chữ Made In Phú Nhuận thì dù có ngon cách mấy cũng không được. Cho dẫu những hạt mè dùng làm bánh mua ở miền Trung vào để làm mè xửng ở... Phú Nhuận cũng không được. Mè xửng là phải làm ở Huế.
Bùi Bảo Trúc
(**) Quỳnh Hương là cháu kêu Diễm Thuyên bằng Dì (Mẹ QH là con của bà vợ cả còn DT là con của thứ thiếp)
Nàng là Đại úy Nữ Quân Nhân, phục vụ tại BTL Đại Đơn Vị, được Hoa Kỳ di tản trong đợt đầu qua Guam cùng với gia đình vì nàng là Cộng Tác Viên của Lực Lượng Thủy Bộ Hoa Kỳ tại vùng Bắc Vĩ Tuyến XVI.
*** Vì bị giam lỏng nên không ai trông thấy hai mẹ con Diễm Thuyên, do đó mọi người - kể cả họ hàng - tưởng rằng họ bị mất tích.
Viết xong Trung Thu Kỷ Mão (24-9-1999)
(**) Quỳnh Hương là cháu kêu Diễm Thuyên bằng Dì (Mẹ QH là con của bà vợ cả còn DT là con của thứ thiếp)
Nàng là Đại úy Nữ Quân Nhân, phục vụ tại BTL Đại Đơn Vị, được Hoa Kỳ di tản trong đợt đầu qua Guam cùng với gia đình vì nàng là Cộng Tác Viên của Lực Lượng Thủy Bộ Hoa Kỳ tại vùng Bắc Vĩ Tuyến XVI.
*** Vì bị giam lỏng nên không ai trông thấy hai mẹ con Diễm Thuyên, do đó mọi người - kể cả họ hàng - tưởng rằng họ bị mất tích.
Viết xong Trung Thu Kỷ Mão (24-9-1999)
_______________________________________________
I.
Hai năm phục vụ tại tuyến đầu lửa đạn, có lẽ sự cam go và gian lao của cuộc đời chinh chiến cũng chỉ đến thế là cùng, không thể nào hơn, khi cái chết chỉ cận kề trong gang tấc!
Hằng ngày, có thể nhiều người nghĩ rằng, ở vào cương vị của tôi, ắc là tôi phải có một văn phòng trang bị thật đầy đủ tiện nghi. Nhưng đó chỉ là trên lý thuyết, còn trên thực tế, một chiếc trực thăng UH1D, trang bị đầy đủ cho một bộ phận điều khiển chiến trường, với một phi hành đoàn 4 người (phi công chính, phi công phụ và hai xạ thủ đại liên M.60) và một Bộ Tham Mưu nhẹ gồm sĩ quan Hành Quân, sĩ quan Phi Pháo, sĩ quan Tùy Viên và dĩ nhiên, có cả tôi.
Chúng tôi, có mặt trên không phận của bất cứ đơn vị trực thuộc nào đang hành quân bên dưới hoặc hướng dẫn để cấp cứu dân-cán-chính trong những khu vực bị lũ lụt đe dọa (Phần lớn tại những quận thâm sơn của Quảng Nam hay Thừa Thiên)
Từ sau tết Mậu Thân, chiến trường trở nên khốc liệt! Bom đạn của hai bên – Địch và Ta – cày xới giang sơn thành từng mãnh vụn. Từ trên không trung nhìn xuống, chúng ta có thể mường tượng là trước đó đã có những cuộc giao tranh đẩm máu mà dù cho bất cứ bên nào thắng, cũng đều gánh lấy tang thương!
I.
Hai năm phục vụ tại tuyến đầu lửa đạn, có lẽ sự cam go và gian lao của cuộc đời chinh chiến cũng chỉ đến thế là cùng, không thể nào hơn, khi cái chết chỉ cận kề trong gang tấc!
Hằng ngày, có thể nhiều người nghĩ rằng, ở vào cương vị của tôi, ắc là tôi phải có một văn phòng trang bị thật đầy đủ tiện nghi. Nhưng đó chỉ là trên lý thuyết, còn trên thực tế, một chiếc trực thăng UH1D, trang bị đầy đủ cho một bộ phận điều khiển chiến trường, với một phi hành đoàn 4 người (phi công chính, phi công phụ và hai xạ thủ đại liên M.60) và một Bộ Tham Mưu nhẹ gồm sĩ quan Hành Quân, sĩ quan Phi Pháo, sĩ quan Tùy Viên và dĩ nhiên, có cả tôi.
Chúng tôi, có mặt trên không phận của bất cứ đơn vị trực thuộc nào đang hành quân bên dưới hoặc hướng dẫn để cấp cứu dân-cán-chính trong những khu vực bị lũ lụt đe dọa (Phần lớn tại những quận thâm sơn của Quảng Nam hay Thừa Thiên)
Từ sau tết Mậu Thân, chiến trường trở nên khốc liệt! Bom đạn của hai bên – Địch và Ta – cày xới giang sơn thành từng mãnh vụn. Từ trên không trung nhìn xuống, chúng ta có thể mường tượng là trước đó đã có những cuộc giao tranh đẩm máu mà dù cho bất cứ bên nào thắng, cũng đều gánh lấy tang thương!
Vào khoảng cuối tháng 8-1974, tin không thám cho thấy là quân Bắc Việt sẽ cắt dứt Quốc Lộ 1, khoảng giửa Đá Bạc và Bạch Mã. Chúng đã điều động cơ giới từ thung lũng Ashau vào đây trong vài ngày qua để thiết lập công sự cho đại pháo của chúng. Tin nầy được báo cáo theo hệ thống dọc, từ tuyến đầu về tới Phủ Tổng Thống. Trong khi chờ đợi phản ứng của các cấp cao để biết mình phải hành xử thế nào, để không bị đối phương phản kháng làViệt Nam Cộng Hòa vi phạm “ngưng bắn,” tôi cho trực thăng bay theo dấu vết mới để quan sát cho tường tận. Tuy cộng quân ngụy trang chiến cụ rất khéo nhưng chúng có biết đâu trên màng ảnh hồng ngoại (I/R screen) tôi đã thấy đoàn cơ giới, chiến xa của chúng bên dưới. Qua intercom, tôi bảo đại úy Tứ – phi công – bay theo đoạn đường địch mới xẻ. Trực thăng vừa đổi hướng bay thì từ dưới đất, những tràng đại liên 50 tua tủa đuổi theo. Trực thăng bị trúng đạn, mất trọng lực điều khiển, đại úy Tứ gọi cấp cứu và cố gắng điều khiển cho trực thăng đáp xuống một thung lủng nhỏ, gần quận lỵ Phú Lộc (Cầu Hai). Khi hệ thống thủy-động-lực (hydrolic system) bị tê liệt – và cũng may – là lúc trực thăng cũng gần tới mặt đất. Bất thình lình trực thăng chúi đầu xuống, cánh quạt lớn chạm phải một cành cây, và liền đó, thân trực thăng đâm thẳng vào thân cây làm cho phi hành đoàn và Bộ Tham Mưu nhẹ của tôi, người bị kẹt trong trực thăng, kẻ bị văng ra ngoài. Tôi cố ngồi dậy để giúp những người bị thương nhưng chân phải của tôi bị tê hoàn toàn, không cựa quậy được. Tôi bèn cố co chân xem thử thì mới biết là xương bắp đùi bị gãy, vì trúng đạn súng nhỏ. Máu ra ướt đầm đìa một bên ống quần. Còn Sĩ quan tùy viên của tôi bị thương ở cánh tay trái, nhưng nhẹ nên anh ta có thể giúp băng vết thương của tôi trong khi chờ đợi cấp cứu đến. Khoảng một giờ sau, chúng tôi được trực thăng cấp cứu đến bốc và bay thẳng về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương, nơi gần nhất để kịp thời cứu chữa, trước khi quá trề. Về đến nơi, họ đưa tôi ngay vào phòng giải phẩu và tuần tự nhi tiến, các bác sĩ và y tá làm bổn phận của họ. Khoảng 1 giờ sáng hôm sau, tôi tỉnh lại, cổ họng tôi khô rang, tôi xin uống nước. Một giọng nữ nói: Em mừng quá!Anh đã tỉnh lại rồi. Nước đây. Anh uống một vài hớp cho đở khát. Tôi mỡ mắt và nhìn thấy Diễm Thuyên (DT). Tôi hỏi: Làm sao DT biết tôi ở đây và đến đây từ lúc nào? Anh đừng bận tâm. Anh nghĩ cho khỏe trước đã. Bác sĩ nói với em là vết thương của anh bị nhiểm độc vì máy bay rớt trung chổ nước đọng, bùn sình dơ bẩn và mất máu rất nhiều. Họ thiếu máu để tiếp cho anh nên.....Nói tới đây thì nàng nheo mắt cười hóm hỉnh, như chờ tôi hỏi.
Nên làm sao? Tôi hỏi.
Họ cứ cho là thời bình, không sẵn sàng gì cả, nên khi cần, họ không có. Được biết như vậy, em liền xăng tay áo, tình nguyện cho anh. DT nói một cách nủng nịu, một cử chỉ rất đáng yêu.
DT cho tôi máu ư! Quân Y Viện không còn máu dự trử sao?
Họ nói nhu cầu tiếp máu cho anh quá cấp bách mà máu thì không có sẵn, phải gọi Tổng Kho Y Dược đem ra. Không biết phải mất bao lâu máu mới đến được đây. Nóng ruột, em làm đại. Chết chóc gì!
Tôi cảm thấy xót xa không biết là ngần nào và thầm nghĩ: Mình đem sinh mạng của mình để phục vụ cho Đất Nước nhưng đến khi mình lâm nạn thì không được Đất Nước đáp đền! Tôi ngán ngẩm thở dài.
DT thấy tôi tỏ vẻ nản lòng, nàng cầm lấy tay tôi, vuốt ve an ủi: Người ta cho nhau cả cuộc đời còn được huống hồ gì một ít máu! Ăn uống đầy đủ thì vài ngày sau cơ thể sẽ có lại đủ số lượng máu đã lấy ra. Có gì mà anh phải quá quan tâm.
Không quan tâm sao được khi mà xã hội của chúng ta chưa thực sự công bằng! Tôi cũng như hằng ngàn chiến sĩ khác, phải đương đầu với kẻ thù từng giây từng phút để bảo vệ Đất Nước nầy, nhưng đến khi tôi lâm nạn thì họ để cho Mỹ lo việc cấp cứu. Chúng ta từng hảnh diện và rêu rao là chúng ta có “Ngân Hàng Máu,” nhưng thảm hại thay nó lại bị phá sản, cạn khô, do bọn tham nhủng đem bán cho các dưởng đường tư nhân để trục lợi! Trước phút thập tử nhứt sanh, tôi phải nhờ đến “tình thương” để được cứu sống. Thế là trong đời, tôi lại phải mang ơn thêm một người đàn bà thứ hai mà người sau lại quan trọng hơn, nhờ chính máu của nàng, tôi thoát chết!
Tôi hỏi DT: Họ rút máu từ tay nào, cho tôi xem. Nàng không hiểu hậu ý của tôi nên nàng vén tay áo lên chỉ cho tôi nơi miếng băng dán để cầm máu. Tôi hôn lên bàn tay đó và và nói cảm ơn. Hình như cử chỉ thân tình đó đã xảy ra trước mặt những thương binh bên cạnh, làm nàng mắc cở, nên nàng giựt tay ra và trách yêu: Không được lợi dụng cơ hội nghe bồ!
DT nói: Chắc bây giờ thì anh đói lắm. Từ sáng hôm qua tới giờ anh chưa ăn uống gì cả. Anh nằm nghĩ để em về làm đồ ăn sáng và cà phê đem vào cho anh dùng. Dễ thương đi! Đừng có làm cho người ta lo sợ nữa nghen. Nói xong nàng ra xe, đi về.
Khoảng 3 giờ sáng, Bác sĩ Quyên, người phụ trách giải phẩu vào thăm tôi. Ông nói: Bây giờ thì tôi yên tâm. Đại tá (đ/t) được nhiều may mắn lắm.Về đến đây kịp lúc, vừa sẵn có người tình nguyện hiến máu. Nhờ vậy sức khỏe của đ/t được chóng bình phục. Một bà vô đây từ lúc đ/t vừa vào phòng mổ cho tới sáng nay. Tội nghiệp! Bà ấy rất lo âu nên luôn luôn hỏi thăm tiến triển của “ca” mổ. Tôi tưởng bà ấy là hiền thê của đ/t nên tôi xưng hô cho phải lẽ, nhưng bà ấy đính chính: “Tôi chỉ là bạn thôi. Đại tá phu nhân ở Đà Nẵng chưa hay biết đ/t bị thương” Tôi hết sức ngạc nhiên. Chỉ là bạn mà thôi - như bà ấy nhấn mạnh - mà tại sao bà ấy lại lo lắng cho đ/t như vợ chồng, chắc là ..... nhưng thôi, tôi đã đi ra ngoài lãnh vực nghề nghiệp của tôi quá xa mất rồi. Xin lỗi để đ/t nghĩ.
DT đem thức ăn sáng và cà phê vào. Diễm Hồng theo sau má của nó. Nó lón lén lại gần tôi và thỏ thẻ hỏi: Bác ngủ hay thức vậy? Con nghe bác bị thương, con sợ quá!
Tôi giật mình định quay qua nhưng chân băng bột nặng và giử chặt không cựa được. Tôi cầm bàn tay nó, vuốt ve hỏi: Ai cho Diễm Hồng biết bác ở đây mà vào thăm bác?
Chị QH điện thoại cho má và má nói lại với con. Hôm qua má đi mà không cho con đi theo vào đây vì trời tối và má sợ con hoảng sợ nên không cho con đi theo. Bây giờ bác hết nguy hiểm rồi phải không bác? Mấy ông Bắc Việt ác quá!
Bác cảm ơn con đã lo âu cho bác. Con biết không? Nhờ má của con chuyền máu cho bác sống lại đó.
Má của con làm sao chuyền máu cho bác được? DH thắc mắc hỏi.
Tôi đùa với nó: Thì má của con đưa tay ra, ông bác sĩ nối một cái ống cao su từ tay của má con để máu chảy qua tay của bác. Khi bác sĩ thấy đủ rồi, thì bác sĩ lấy ống cao su ra. Vậy là xong. Bây giờ, trong người của bác, có hai dòng máu. Máu của má con trộn với máu của bác! Bác lo quá! Lỡ mai mốt, bác vô tình làm má của con giận, bà ấy đòi máu lại, bác sẽ không biết phải làm sao!
DH hồn nhiên quay qua má nó: Má đã cho bác và bác đã cảm ơn má rồi. Má đừng có đòi lại, nghe má!
DT chỉ vào trán con: Sao con ngây thơ quá vậy. Bác “chọc quê” con đó!
À thì ra vậy! Bác vui rồi. Thôi bác ngồi dậy ăn sáng đi.
DH rót cà phê ra tách và hai tay bưng đến mời tôi. Lúc nầy tôi mới thấy được tình thương đang vây quanh tôi và làm cho tỉnh táo hẵn sau một giai đoạn thoát hiểm. Cơ hội nầy sẽ làm cho tôi nhớ mãi cử chỉ thân thương đó của hai mẹ con, DT và DH.
II.
Trong dịp lễ Lao Động vừa rồi, qua điện thoại, Quỳnh Hương (QH) tin cho tôi biết là Dược sĩ Diễm Thuyên bị tai nạn nhưng đã không được cấp cứu kịp thời, nên phải mất đi bàn chân trái. (Phần từ dưới đầu gối, ống chân bên trái trở xuống). Tôi bàn hoàng khi nghe tin đó. Tuy rằng hơn hai mươi năm xa cách và nhất là nàng bị cưởng ép bỡi kẽ thắng trận để làm vợ, lúc nào tôi cũng thầm cầu nguyện cho nàng được may nhiều, ruổi ít và khôn khéo tìm lại được hạnh phúc lúc tuổi xế chiều. Nhưng rồi thì tai họa không chừa một ai, ngay cả đối với người từng làm ơn làm phước cho nhiều người, nhưng vẫn lâm vào thảm cảnh.
Quỳnh Hương chờ cho cơn xúc động của tôi lắng xuống, nàng hỏi: Anh có thể cho em biết ý kiến là chúng ta sẽ làm gì để an ủi bà ấy?
Chắc chắn là chúng ta phải có một cử chỉ thân tình nào đó, nhưng tin xảy đến bất ngờ quá, tôi chưa kịp nghĩ ra. Vậy QH có thể gợi ý cho tôi được không? Tôi đáp.
QH đã chuẩn bị ý kiến trước khi điện thoại cho anh. Chắc anh còn nhớ trung tá Wray E. B. trước khi về làm cố vấn cho anh, ông ấy là cố vấn của Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa (Phú Bài). Ông ta là nhân chứng cho vụ Dược sĩ DT cấp cứu và che dấu viên trung úy trung đội trưởng và một hạ sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ bị thương khi họ vào giải tỏa cộng quân trong thành phố Huế, rồi bị thất lạc đơn vị không? Dĩ nhiên là sau khi dông bão qua đi, Trung tá Wray E. B. đưa đội cứu thương đến đón hai chiến sĩ bị thương của họ và nghĩa cử nầy của Dược Sĩ DT đã được Quân lực Hoa Kỳ tuyên dương. Nhưng đối với Hoa Kỳ, ai đã quả cảm cứu sống chiến sĩ hay công dân của họ, họ luôn luôn nhớ ơn và đền đáp khi có cơ hội. Vậy chúng ta có thể, không phải đòi nợ Mỹ, nhưng mà tạo cho họ một cơ hội để họ thể hiện cử chỉ cảm kích (an appreciation manner), hay nói trắng ra là một sự đền ơn cho phải lẽ của họ. Vậy thôi.
Tôi lắng nghe QH và tôi cho rằng những gì nàng vừa nói đều hợp lý, nên tôi góp ý kiến:
Tôi nghĩ là một người năn nổ (hoạt động) như DT mà bị tật nguyền như vậy, ắc là trong thâm tâm bà mang nhiều mặc cảm lắm. Vậy chúng ta nhờ DH thuyết phục má của nó qua đây để cho Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ (VA) chỉnh hình hầu giúp cho bà ấy phục hồi sinh hoạt. Dù không được một trăm phần trăm, nhưng tối đa, bà có thể đạt sẽ đạt đến ít nhất là tám mươi phần trăm. Thế là vui rồi. Tôi và QH. thỏa thuận với nhau trên căn bản đó để xúc tiến.
May mắn thay, Dược sĩ DT vui vẽ đồng ý ngay khi DH điện thoại về trình bày dự tính đưa má nó qua Mỹ để chỉnh hình. Bà ấy chỉ biết là hai chị em bạn dì, Quỳnh Hương và Diễm Hồng, lo toan mọi việc cho bà sang Mỹ để thực hiện dự tính, thế thôi. Tuy nhiên, ít ngày sau, khi nhân viên Tổng Lãnh Sự từ Sài Gòn ra tiếp xúc để “thuyết trình” thủ tục và chi phí đài thọ cho chuyến Việt Nam-Hoa Kỳ khứ hồi của bà, thì bà hết sức ngạc nhiên, sao lại có cơ may đến như vậy.
Tôi được Quỳnh Hương thông báo tất cả chi tiết về chuyến đi từ Huế đến Phi trường San Francisco – Hoa Kỳ của bà DT. Sáu tuần lễ tại California như là một bệnh nhân điều trị tại gia (Outpatient) của Quân Y Viện, công việc chỉnh hình và trang bị chân giả, vật lý trị liệu (Therapy) và tập xử dụng xe lăng tự động. Để dành một bất ngờ lý thú cho DT, nàng đề nghị với DH và tôi phải hoàn toàn giữ kín chương trình “ngày tiễn chân” DT trở lại quê nhà.
Ngày lên đường trở về Việt Nam, Quỳnh Hương hỏi DT: Tới đây, chúng ta vừa thấy một cử chỉ đền đáp xứng đáng của Mỹ về một hành động quả cảm của Dì trong chiến tranh. Như vậy chắc cũng an ủi Dì được phần nào rồi. Nhưng QH thắt mắc là ít ra Dì cũng có bạn bè hay quen biết trước 75 mà sao trong thời gian có mặt tại Mỹ, QH không nghe Dì mong ước được có cơ hội gặp lại những ai – dù thân hay sơ – đang lưu lạc ở bên nầy không? DT đang suy nghĩ, ngần ngừ chưa biết trả lời thế nào. Trong lúc đó; tôi, cựu trung táWray E. B. (Nay là nghị sĩ của tiểu bang Alaska) và cựu trung úy Thủy Quân Lục Chiến Johnny D. Ross, đàng xa đi tới. Quỳnh Hương ra dấu cho chúng tôi dừng lại rồi nàng quay cái xe lăng của Diễm Thuyên hướng về phía chúng tôi và hỏi: Dì có nhận ra được ba người đó là ai không? DT nhìn chúng tôi chăm chăm với một vẽ băn khoăn như muốn tìm hiểu chúng tôi là ai, và cuối cùng, nàng liền rời xe lăng, đứng dậy và khoan thai tiến gần lại chổ chúng tôi đang đứng, nhoẻn miệng cười và gật đầu chào. Bà quay lại phía QH và DH: Chịu thôi! Thời gian đã làm cho vóc dáng của họ bị thay đổi, nhất là hoàn cảnh của hai quốc gia khác nhau. Cố nén xúc động, Diễm Hồng nói: Hai trong ba người nầy đã thọ ơn cứu tử của má nên họ họp lại với nhau để thực hiện chuyến đi chỉnh hình nầy cho má đó. DT bước tới bắt tay tôi và hai ân nhân Mỹ, cùng đi với tôi. Bồi hồi xúc động, bà nói vắn tắt một câu tiếng Anh: “I’m really appreciated what you’ve done for me, Gentlemen.” Quay qua tôi, DT hỏi bằng tiếng Việt: Xin lỗi, Ông là ai mà dốc lòng lo cho tôi như thế nầy?
(Tôi giả vờ lấy tay dụi mắt bên phải như để nhắc cho bà nhớ về một kỷ niệm khó quên, lúc đó đã quen thân với nhau rồi, bà ta phê bình 2 nốt ruồi bên khóe mắt phải của tôi....) “Tôi là người được bà cưu mang gần hai năm trời khi tôi – đơn thân độc mã - từ trong Nam ra phục vụ tại Huế và đặc biệt là với lòng thương người, bà đã cứu sống tôi khi tôi bị thương, gảy chân. Nhưng tôi hết sức ân hận là tôi lại không có cơ hội để giúp bà lúc lâm nạn. Tôi ước mong – vì hoàn cảnh – bà sẽ thông cảm cho tôi.”
Trời ơi! Anh đây sao? Anh trông trẻ hơn tuổi và vóc dáng của anh khác nhiều lắm. Làm
em nhận không ra. Chị vẫn khỏe. Các cháu thành tài và lập gia đình cả rồi chớ gì!
Tôi gật đầu: Cảm ơn DT. Tôi thoáng nhìn trong số những người quen thuộc đến tiễn hành DT về lại quê nhà, có một thanh niên, trạc hai mươi tuổi, vẻ thanh tú, đang như trầm tư về một điều gì thì DH hướng về phía tôi nói: À mà điều nầy sẽ làm bác ngạc nhiên hơn. Đây là quý tử của má DH đó. Cậu ấy tên là Hoàng Tấn Trang. Má nói: Nếu bà không lầm thì ngày sinh của cậu ấy trùng với ngày sinh của bác và cũng là năm Con Rồng, nhưng bốn con giáp sau ! (=8-1-1976) . Cậu ấy được má cho sang đây từ ba năm trước để học về ngành “Kinh Doanh” (chính) và “Vi Tính” (phu). Ít nhất cũng phải năm nữa mới hy vọng hoàn tất để trở về nước. khi DH nói dứt câu, tôi chợt nhớ ra... và linh tính đã thúc đẩy tôi bấm đốt ngón tay tìm hiểu xem việc gì đã xảy ra.. và tôi đã thản thốt, nói thầm: Không lẽ đó là sự thật sao? Tôi điềm tĩnh tiến lại gần cậu Trang, và nói: Tôi rất vui mừng là bà Dược sĩ đã có được một người con trai khôi ngô tuấn tú và học hành chăm chỉ như cậu. Hy vọng là cậu đạt được nhiều may mắn trong tương lai. Thế cậu có hài lòng khi thấy mẹ của mình đã được gần như bình thường như trước không? Cậu Trang nhìn tôi như có vẻ muốn biết tôi là ai. Cũng may là lúc đó, DT đã giúp tôi thoát được sự bối rối, nàng nói: Phải chi em biết trước là anh có mặt ở đây hôm nay thì em đã chuẩn bị đầy đủ rồi. Tiếc thật! DT nói gì tôi chưa rõ ý. Tôi thắc mắc hỏi lại nhưng DT đã khéo léo nói lảng sang chuyện khác để tránh cho “bọn trẻ” phân vân, ngờ vực.
QH như đoán ra có việc gì quan trọng mà Dì của nàng cần giãi bày với tôi nên lanh trí, nàng mời những người đến tiển chân DT về lại Việt Nam, để cho DT thoải mái nói chuyện với tôi. Hai người Mỹ biết vậy cũng rũ nhau đi uống cà phê, chờ giờ DT lên máy bay.
DT không ngờ là anh và các bạn của anh đã cùng nhau “trả ơn” cho DT. Đằng nào tai nạn cũng đã xãy ra và DT cũng đã mất đi một phần thân thể. Số trời đã định mà. Tuy nhiên, hơn ba năm sống với sự thiếu vắng phần mất mác đó đôi khi không những nó cản trở sinh hoạt bình thường đã đành mà nó còn làm cho mình cảm thấy như một người tàn phế! Bây giờ thì vui rồi! Vui nhiều hơn trước là đằng khác. Anh có biết tại sao không?
Tâm trạng của con người, nhìn bề ngoài thì biết người đó đang vui hay đang buồn nhưng làm sao người ngoại cuộc có thể biết được nguyên do nào tạo nên cho họ! Để tạo cơ hội cho nàng thổ lộ tâm tư, tôi mời nàng tới nhà hàng gần đó. Tôi nói:
Để chứng tỏ điều đó, DT có muốn cùng đi với tôi tới nhà hàng kia, chúng ta uống một ly rượu để chúc mừng ngày đẹp hôm nay, được chứ?
Sẵn sàng. Chúng ta cùng đi. DT đáp.
Như một cặp tình nhân vừa tái ngộ. DT ôm chặt cánh tay và tỳ đầu vào vai tôi, vừa rảo bước, vừa nói: Đã lâu lắm rồi, em chưa hề có được một ngày vui như hôm nay. Hạnh phúc thì đúng hơn! Em sẽ giử mải kỷ niệm nầy cho tới ngày lìa đời.
DT không cho tôi uống rượu. Nàng kêu hai tách cà phê, pha theo lối chúng tôi thường uống ở Huế lúc trước. Ngồi nhâm nhi tách cà phê đặc quánh, thích thú nhìn nhau như để nhắc lại những kỷ niệm vui ngày trước. Tôi không bỏ qua cơ hội khi nhìn thấy nét hân hân hoan đã hiển hiện trở về trên khuôn mặt của người đàn bà có quá nhiều gian truân, tôi thật sự vui mừng cho nàng. Để cho niềm vui đó sống mãi với nàng, tôi nói đùa: “Ước gì tôi có dịp may khác để dự sinh nhựt của DH như năm nào trước khi qua đây!” Nàng nhớ ra liền, và nói: Thực tế thì không, nhưng trên một tương duyên (*) nào đó thì đã có. Anh không nhận ra hay sao?
Có chớ! Vì vậy nên tôi mới gợi ý để được nghe chính DT nói. Tôi đáp.
Lúc nãy em đã lỡ nói trước mặt mấy đứa nhỏ, không rõ chúng nó có suy diễn điều gì tai hại hay không! Hai tuần lễ sau ngày 19-3-1975, em đã nhờ khoa học thực nghiệm (thử thỏ) để có chứng liệu làm bằng sau nầy. Sau khi được biết chắc chắn và trong lúc hoang mang tột độ về những tin tức mù mờ và oan nghiệt liên quan tới tình trạng của anh nên em đã không còn thiết sống nữa. để mặc tình cho ông Hoàng Thanh Lâm muốn hành động ra sao tùy tiện theo sự cưỡng ép của ông ấy. Tội nghiệp! Lúc đầu ông ta vẫn tin rằng, vì sự hoảng sợ của em sau ngày Huế bị thất thủ, nên ảnh hưởng đến thai nhi và cho đó là lý do em sinh con thiếu tháng, chớ ông ấy đâu có biết sự thật thế nào! Sau nầy, có lẽ hoặc nhờ kinh nghiệm sống hoặc nghe người ta “sầm xì”, nên ông Lâm bán tín bán nghi, đâm ra ghen tức, gắt gỏng, rượu chè làm mọi người hoảng sợ. Đó là nguyên nhân đã làm cho Trang xa lánh ông. Dù sao, em cũng phải tìm cách nào nghe hợp lý nhứt để che dấu sự thật, an ủi con, chờ ngày nó khôn lớn rồi hãy cho nó biết nguồn cội của nó. Em lý luận rằng: Có lẽ công danh của ông không thành đạt như lòng mong đợi nên ông tỏ ra bất mãn mà có cử chỉ làm phiền hà người khác.
Tôi thật sự chới với khi được nghe những lời DT vừa mới nói. Tôi liền hỏi DT: Nếu sự thật như vậy thì DT muốn tôi phải làm gì?
Từ bây giờ, anh phải hết sức khéo léo khi tiếp xúc với nó. Chắc nó biết anh rất quý DH nên việc anh có muốn gần gũi với nó cũng không khó. Đừng có cử chỉ nào vồn vã quá khiến nó phân vân thắt mắc. Có lẽ DH nó biết ít nhiều về chuyện nầy nhưng em khuyên nó hãy kín đáo đừng bao giờ để em nó nghi ngờ điều gì. Mọi việc chỉ có thể minh bạch sau ngày nó thành tài.
______________________________________________________
(*) Tương duyên: Sự tương quan giữa nhân quả và nhân duyên trên dương thành hoại diễn biến
của muôn loài (Phật học)
------------------------------------------------------------------------------
Nên làm sao? Tôi hỏi.
Họ cứ cho là thời bình, không sẵn sàng gì cả, nên khi cần, họ không có. Được biết như vậy, em liền xăng tay áo, tình nguyện cho anh. DT nói một cách nủng nịu, một cử chỉ rất đáng yêu.
DT cho tôi máu ư! Quân Y Viện không còn máu dự trử sao?
Họ nói nhu cầu tiếp máu cho anh quá cấp bách mà máu thì không có sẵn, phải gọi Tổng Kho Y Dược đem ra. Không biết phải mất bao lâu máu mới đến được đây. Nóng ruột, em làm đại. Chết chóc gì!
Tôi cảm thấy xót xa không biết là ngần nào và thầm nghĩ: Mình đem sinh mạng của mình để phục vụ cho Đất Nước nhưng đến khi mình lâm nạn thì không được Đất Nước đáp đền! Tôi ngán ngẩm thở dài.
DT thấy tôi tỏ vẻ nản lòng, nàng cầm lấy tay tôi, vuốt ve an ủi: Người ta cho nhau cả cuộc đời còn được huống hồ gì một ít máu! Ăn uống đầy đủ thì vài ngày sau cơ thể sẽ có lại đủ số lượng máu đã lấy ra. Có gì mà anh phải quá quan tâm.
Không quan tâm sao được khi mà xã hội của chúng ta chưa thực sự công bằng! Tôi cũng như hằng ngàn chiến sĩ khác, phải đương đầu với kẻ thù từng giây từng phút để bảo vệ Đất Nước nầy, nhưng đến khi tôi lâm nạn thì họ để cho Mỹ lo việc cấp cứu. Chúng ta từng hảnh diện và rêu rao là chúng ta có “Ngân Hàng Máu,” nhưng thảm hại thay nó lại bị phá sản, cạn khô, do bọn tham nhủng đem bán cho các dưởng đường tư nhân để trục lợi! Trước phút thập tử nhứt sanh, tôi phải nhờ đến “tình thương” để được cứu sống. Thế là trong đời, tôi lại phải mang ơn thêm một người đàn bà thứ hai mà người sau lại quan trọng hơn, nhờ chính máu của nàng, tôi thoát chết!
Tôi hỏi DT: Họ rút máu từ tay nào, cho tôi xem. Nàng không hiểu hậu ý của tôi nên nàng vén tay áo lên chỉ cho tôi nơi miếng băng dán để cầm máu. Tôi hôn lên bàn tay đó và và nói cảm ơn. Hình như cử chỉ thân tình đó đã xảy ra trước mặt những thương binh bên cạnh, làm nàng mắc cở, nên nàng giựt tay ra và trách yêu: Không được lợi dụng cơ hội nghe bồ!
DT nói: Chắc bây giờ thì anh đói lắm. Từ sáng hôm qua tới giờ anh chưa ăn uống gì cả. Anh nằm nghĩ để em về làm đồ ăn sáng và cà phê đem vào cho anh dùng. Dễ thương đi! Đừng có làm cho người ta lo sợ nữa nghen. Nói xong nàng ra xe, đi về.
Khoảng 3 giờ sáng, Bác sĩ Quyên, người phụ trách giải phẩu vào thăm tôi. Ông nói: Bây giờ thì tôi yên tâm. Đại tá (đ/t) được nhiều may mắn lắm.Về đến đây kịp lúc, vừa sẵn có người tình nguyện hiến máu. Nhờ vậy sức khỏe của đ/t được chóng bình phục. Một bà vô đây từ lúc đ/t vừa vào phòng mổ cho tới sáng nay. Tội nghiệp! Bà ấy rất lo âu nên luôn luôn hỏi thăm tiến triển của “ca” mổ. Tôi tưởng bà ấy là hiền thê của đ/t nên tôi xưng hô cho phải lẽ, nhưng bà ấy đính chính: “Tôi chỉ là bạn thôi. Đại tá phu nhân ở Đà Nẵng chưa hay biết đ/t bị thương” Tôi hết sức ngạc nhiên. Chỉ là bạn mà thôi - như bà ấy nhấn mạnh - mà tại sao bà ấy lại lo lắng cho đ/t như vợ chồng, chắc là ..... nhưng thôi, tôi đã đi ra ngoài lãnh vực nghề nghiệp của tôi quá xa mất rồi. Xin lỗi để đ/t nghĩ.
DT đem thức ăn sáng và cà phê vào. Diễm Hồng theo sau má của nó. Nó lón lén lại gần tôi và thỏ thẻ hỏi: Bác ngủ hay thức vậy? Con nghe bác bị thương, con sợ quá!
Tôi giật mình định quay qua nhưng chân băng bột nặng và giử chặt không cựa được. Tôi cầm bàn tay nó, vuốt ve hỏi: Ai cho Diễm Hồng biết bác ở đây mà vào thăm bác?
Chị QH điện thoại cho má và má nói lại với con. Hôm qua má đi mà không cho con đi theo vào đây vì trời tối và má sợ con hoảng sợ nên không cho con đi theo. Bây giờ bác hết nguy hiểm rồi phải không bác? Mấy ông Bắc Việt ác quá!
Bác cảm ơn con đã lo âu cho bác. Con biết không? Nhờ má của con chuyền máu cho bác sống lại đó.
Má của con làm sao chuyền máu cho bác được? DH thắc mắc hỏi.
Tôi đùa với nó: Thì má của con đưa tay ra, ông bác sĩ nối một cái ống cao su từ tay của má con để máu chảy qua tay của bác. Khi bác sĩ thấy đủ rồi, thì bác sĩ lấy ống cao su ra. Vậy là xong. Bây giờ, trong người của bác, có hai dòng máu. Máu của má con trộn với máu của bác! Bác lo quá! Lỡ mai mốt, bác vô tình làm má của con giận, bà ấy đòi máu lại, bác sẽ không biết phải làm sao!
DH hồn nhiên quay qua má nó: Má đã cho bác và bác đã cảm ơn má rồi. Má đừng có đòi lại, nghe má!
DT chỉ vào trán con: Sao con ngây thơ quá vậy. Bác “chọc quê” con đó!
À thì ra vậy! Bác vui rồi. Thôi bác ngồi dậy ăn sáng đi.
DH rót cà phê ra tách và hai tay bưng đến mời tôi. Lúc nầy tôi mới thấy được tình thương đang vây quanh tôi và làm cho tỉnh táo hẵn sau một giai đoạn thoát hiểm. Cơ hội nầy sẽ làm cho tôi nhớ mãi cử chỉ thân thương đó của hai mẹ con, DT và DH.
II.
Trong dịp lễ Lao Động vừa rồi, qua điện thoại, Quỳnh Hương (QH) tin cho tôi biết là Dược sĩ Diễm Thuyên bị tai nạn nhưng đã không được cấp cứu kịp thời, nên phải mất đi bàn chân trái. (Phần từ dưới đầu gối, ống chân bên trái trở xuống). Tôi bàn hoàng khi nghe tin đó. Tuy rằng hơn hai mươi năm xa cách và nhất là nàng bị cưởng ép bỡi kẽ thắng trận để làm vợ, lúc nào tôi cũng thầm cầu nguyện cho nàng được may nhiều, ruổi ít và khôn khéo tìm lại được hạnh phúc lúc tuổi xế chiều. Nhưng rồi thì tai họa không chừa một ai, ngay cả đối với người từng làm ơn làm phước cho nhiều người, nhưng vẫn lâm vào thảm cảnh.
Quỳnh Hương chờ cho cơn xúc động của tôi lắng xuống, nàng hỏi: Anh có thể cho em biết ý kiến là chúng ta sẽ làm gì để an ủi bà ấy?
Chắc chắn là chúng ta phải có một cử chỉ thân tình nào đó, nhưng tin xảy đến bất ngờ quá, tôi chưa kịp nghĩ ra. Vậy QH có thể gợi ý cho tôi được không? Tôi đáp.
QH đã chuẩn bị ý kiến trước khi điện thoại cho anh. Chắc anh còn nhớ trung tá Wray E. B. trước khi về làm cố vấn cho anh, ông ấy là cố vấn của Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa (Phú Bài). Ông ta là nhân chứng cho vụ Dược sĩ DT cấp cứu và che dấu viên trung úy trung đội trưởng và một hạ sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ bị thương khi họ vào giải tỏa cộng quân trong thành phố Huế, rồi bị thất lạc đơn vị không? Dĩ nhiên là sau khi dông bão qua đi, Trung tá Wray E. B. đưa đội cứu thương đến đón hai chiến sĩ bị thương của họ và nghĩa cử nầy của Dược Sĩ DT đã được Quân lực Hoa Kỳ tuyên dương. Nhưng đối với Hoa Kỳ, ai đã quả cảm cứu sống chiến sĩ hay công dân của họ, họ luôn luôn nhớ ơn và đền đáp khi có cơ hội. Vậy chúng ta có thể, không phải đòi nợ Mỹ, nhưng mà tạo cho họ một cơ hội để họ thể hiện cử chỉ cảm kích (an appreciation manner), hay nói trắng ra là một sự đền ơn cho phải lẽ của họ. Vậy thôi.
Tôi lắng nghe QH và tôi cho rằng những gì nàng vừa nói đều hợp lý, nên tôi góp ý kiến:
Tôi nghĩ là một người năn nổ (hoạt động) như DT mà bị tật nguyền như vậy, ắc là trong thâm tâm bà mang nhiều mặc cảm lắm. Vậy chúng ta nhờ DH thuyết phục má của nó qua đây để cho Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ (VA) chỉnh hình hầu giúp cho bà ấy phục hồi sinh hoạt. Dù không được một trăm phần trăm, nhưng tối đa, bà có thể đạt sẽ đạt đến ít nhất là tám mươi phần trăm. Thế là vui rồi. Tôi và QH. thỏa thuận với nhau trên căn bản đó để xúc tiến.
May mắn thay, Dược sĩ DT vui vẽ đồng ý ngay khi DH điện thoại về trình bày dự tính đưa má nó qua Mỹ để chỉnh hình. Bà ấy chỉ biết là hai chị em bạn dì, Quỳnh Hương và Diễm Hồng, lo toan mọi việc cho bà sang Mỹ để thực hiện dự tính, thế thôi. Tuy nhiên, ít ngày sau, khi nhân viên Tổng Lãnh Sự từ Sài Gòn ra tiếp xúc để “thuyết trình” thủ tục và chi phí đài thọ cho chuyến Việt Nam-Hoa Kỳ khứ hồi của bà, thì bà hết sức ngạc nhiên, sao lại có cơ may đến như vậy.
Tôi được Quỳnh Hương thông báo tất cả chi tiết về chuyến đi từ Huế đến Phi trường San Francisco – Hoa Kỳ của bà DT. Sáu tuần lễ tại California như là một bệnh nhân điều trị tại gia (Outpatient) của Quân Y Viện, công việc chỉnh hình và trang bị chân giả, vật lý trị liệu (Therapy) và tập xử dụng xe lăng tự động. Để dành một bất ngờ lý thú cho DT, nàng đề nghị với DH và tôi phải hoàn toàn giữ kín chương trình “ngày tiễn chân” DT trở lại quê nhà.
Ngày lên đường trở về Việt Nam, Quỳnh Hương hỏi DT: Tới đây, chúng ta vừa thấy một cử chỉ đền đáp xứng đáng của Mỹ về một hành động quả cảm của Dì trong chiến tranh. Như vậy chắc cũng an ủi Dì được phần nào rồi. Nhưng QH thắt mắc là ít ra Dì cũng có bạn bè hay quen biết trước 75 mà sao trong thời gian có mặt tại Mỹ, QH không nghe Dì mong ước được có cơ hội gặp lại những ai – dù thân hay sơ – đang lưu lạc ở bên nầy không? DT đang suy nghĩ, ngần ngừ chưa biết trả lời thế nào. Trong lúc đó; tôi, cựu trung táWray E. B. (Nay là nghị sĩ của tiểu bang Alaska) và cựu trung úy Thủy Quân Lục Chiến Johnny D. Ross, đàng xa đi tới. Quỳnh Hương ra dấu cho chúng tôi dừng lại rồi nàng quay cái xe lăng của Diễm Thuyên hướng về phía chúng tôi và hỏi: Dì có nhận ra được ba người đó là ai không? DT nhìn chúng tôi chăm chăm với một vẽ băn khoăn như muốn tìm hiểu chúng tôi là ai, và cuối cùng, nàng liền rời xe lăng, đứng dậy và khoan thai tiến gần lại chổ chúng tôi đang đứng, nhoẻn miệng cười và gật đầu chào. Bà quay lại phía QH và DH: Chịu thôi! Thời gian đã làm cho vóc dáng của họ bị thay đổi, nhất là hoàn cảnh của hai quốc gia khác nhau. Cố nén xúc động, Diễm Hồng nói: Hai trong ba người nầy đã thọ ơn cứu tử của má nên họ họp lại với nhau để thực hiện chuyến đi chỉnh hình nầy cho má đó. DT bước tới bắt tay tôi và hai ân nhân Mỹ, cùng đi với tôi. Bồi hồi xúc động, bà nói vắn tắt một câu tiếng Anh: “I’m really appreciated what you’ve done for me, Gentlemen.” Quay qua tôi, DT hỏi bằng tiếng Việt: Xin lỗi, Ông là ai mà dốc lòng lo cho tôi như thế nầy?
(Tôi giả vờ lấy tay dụi mắt bên phải như để nhắc cho bà nhớ về một kỷ niệm khó quên, lúc đó đã quen thân với nhau rồi, bà ta phê bình 2 nốt ruồi bên khóe mắt phải của tôi....) “Tôi là người được bà cưu mang gần hai năm trời khi tôi – đơn thân độc mã - từ trong Nam ra phục vụ tại Huế và đặc biệt là với lòng thương người, bà đã cứu sống tôi khi tôi bị thương, gảy chân. Nhưng tôi hết sức ân hận là tôi lại không có cơ hội để giúp bà lúc lâm nạn. Tôi ước mong – vì hoàn cảnh – bà sẽ thông cảm cho tôi.”
Trời ơi! Anh đây sao? Anh trông trẻ hơn tuổi và vóc dáng của anh khác nhiều lắm. Làm
em nhận không ra. Chị vẫn khỏe. Các cháu thành tài và lập gia đình cả rồi chớ gì!
Tôi gật đầu: Cảm ơn DT. Tôi thoáng nhìn trong số những người quen thuộc đến tiễn hành DT về lại quê nhà, có một thanh niên, trạc hai mươi tuổi, vẻ thanh tú, đang như trầm tư về một điều gì thì DH hướng về phía tôi nói: À mà điều nầy sẽ làm bác ngạc nhiên hơn. Đây là quý tử của má DH đó. Cậu ấy tên là Hoàng Tấn Trang. Má nói: Nếu bà không lầm thì ngày sinh của cậu ấy trùng với ngày sinh của bác và cũng là năm Con Rồng, nhưng bốn con giáp sau ! (=8-1-1976) . Cậu ấy được má cho sang đây từ ba năm trước để học về ngành “Kinh Doanh” (chính) và “Vi Tính” (phu). Ít nhất cũng phải năm nữa mới hy vọng hoàn tất để trở về nước. khi DH nói dứt câu, tôi chợt nhớ ra... và linh tính đã thúc đẩy tôi bấm đốt ngón tay tìm hiểu xem việc gì đã xảy ra.. và tôi đã thản thốt, nói thầm: Không lẽ đó là sự thật sao? Tôi điềm tĩnh tiến lại gần cậu Trang, và nói: Tôi rất vui mừng là bà Dược sĩ đã có được một người con trai khôi ngô tuấn tú và học hành chăm chỉ như cậu. Hy vọng là cậu đạt được nhiều may mắn trong tương lai. Thế cậu có hài lòng khi thấy mẹ của mình đã được gần như bình thường như trước không? Cậu Trang nhìn tôi như có vẻ muốn biết tôi là ai. Cũng may là lúc đó, DT đã giúp tôi thoát được sự bối rối, nàng nói: Phải chi em biết trước là anh có mặt ở đây hôm nay thì em đã chuẩn bị đầy đủ rồi. Tiếc thật! DT nói gì tôi chưa rõ ý. Tôi thắc mắc hỏi lại nhưng DT đã khéo léo nói lảng sang chuyện khác để tránh cho “bọn trẻ” phân vân, ngờ vực.
QH như đoán ra có việc gì quan trọng mà Dì của nàng cần giãi bày với tôi nên lanh trí, nàng mời những người đến tiển chân DT về lại Việt Nam, để cho DT thoải mái nói chuyện với tôi. Hai người Mỹ biết vậy cũng rũ nhau đi uống cà phê, chờ giờ DT lên máy bay.
DT không ngờ là anh và các bạn của anh đã cùng nhau “trả ơn” cho DT. Đằng nào tai nạn cũng đã xãy ra và DT cũng đã mất đi một phần thân thể. Số trời đã định mà. Tuy nhiên, hơn ba năm sống với sự thiếu vắng phần mất mác đó đôi khi không những nó cản trở sinh hoạt bình thường đã đành mà nó còn làm cho mình cảm thấy như một người tàn phế! Bây giờ thì vui rồi! Vui nhiều hơn trước là đằng khác. Anh có biết tại sao không?
Tâm trạng của con người, nhìn bề ngoài thì biết người đó đang vui hay đang buồn nhưng làm sao người ngoại cuộc có thể biết được nguyên do nào tạo nên cho họ! Để tạo cơ hội cho nàng thổ lộ tâm tư, tôi mời nàng tới nhà hàng gần đó. Tôi nói:
Để chứng tỏ điều đó, DT có muốn cùng đi với tôi tới nhà hàng kia, chúng ta uống một ly rượu để chúc mừng ngày đẹp hôm nay, được chứ?
Sẵn sàng. Chúng ta cùng đi. DT đáp.
Như một cặp tình nhân vừa tái ngộ. DT ôm chặt cánh tay và tỳ đầu vào vai tôi, vừa rảo bước, vừa nói: Đã lâu lắm rồi, em chưa hề có được một ngày vui như hôm nay. Hạnh phúc thì đúng hơn! Em sẽ giử mải kỷ niệm nầy cho tới ngày lìa đời.
DT không cho tôi uống rượu. Nàng kêu hai tách cà phê, pha theo lối chúng tôi thường uống ở Huế lúc trước. Ngồi nhâm nhi tách cà phê đặc quánh, thích thú nhìn nhau như để nhắc lại những kỷ niệm vui ngày trước. Tôi không bỏ qua cơ hội khi nhìn thấy nét hân hân hoan đã hiển hiện trở về trên khuôn mặt của người đàn bà có quá nhiều gian truân, tôi thật sự vui mừng cho nàng. Để cho niềm vui đó sống mãi với nàng, tôi nói đùa: “Ước gì tôi có dịp may khác để dự sinh nhựt của DH như năm nào trước khi qua đây!” Nàng nhớ ra liền, và nói: Thực tế thì không, nhưng trên một tương duyên (*) nào đó thì đã có. Anh không nhận ra hay sao?
Có chớ! Vì vậy nên tôi mới gợi ý để được nghe chính DT nói. Tôi đáp.
Lúc nãy em đã lỡ nói trước mặt mấy đứa nhỏ, không rõ chúng nó có suy diễn điều gì tai hại hay không! Hai tuần lễ sau ngày 19-3-1975, em đã nhờ khoa học thực nghiệm (thử thỏ) để có chứng liệu làm bằng sau nầy. Sau khi được biết chắc chắn và trong lúc hoang mang tột độ về những tin tức mù mờ và oan nghiệt liên quan tới tình trạng của anh nên em đã không còn thiết sống nữa. để mặc tình cho ông Hoàng Thanh Lâm muốn hành động ra sao tùy tiện theo sự cưỡng ép của ông ấy. Tội nghiệp! Lúc đầu ông ta vẫn tin rằng, vì sự hoảng sợ của em sau ngày Huế bị thất thủ, nên ảnh hưởng đến thai nhi và cho đó là lý do em sinh con thiếu tháng, chớ ông ấy đâu có biết sự thật thế nào! Sau nầy, có lẽ hoặc nhờ kinh nghiệm sống hoặc nghe người ta “sầm xì”, nên ông Lâm bán tín bán nghi, đâm ra ghen tức, gắt gỏng, rượu chè làm mọi người hoảng sợ. Đó là nguyên nhân đã làm cho Trang xa lánh ông. Dù sao, em cũng phải tìm cách nào nghe hợp lý nhứt để che dấu sự thật, an ủi con, chờ ngày nó khôn lớn rồi hãy cho nó biết nguồn cội của nó. Em lý luận rằng: Có lẽ công danh của ông không thành đạt như lòng mong đợi nên ông tỏ ra bất mãn mà có cử chỉ làm phiền hà người khác.
Tôi thật sự chới với khi được nghe những lời DT vừa mới nói. Tôi liền hỏi DT: Nếu sự thật như vậy thì DT muốn tôi phải làm gì?
Từ bây giờ, anh phải hết sức khéo léo khi tiếp xúc với nó. Chắc nó biết anh rất quý DH nên việc anh có muốn gần gũi với nó cũng không khó. Đừng có cử chỉ nào vồn vã quá khiến nó phân vân thắt mắc. Có lẽ DH nó biết ít nhiều về chuyện nầy nhưng em khuyên nó hãy kín đáo đừng bao giờ để em nó nghi ngờ điều gì. Mọi việc chỉ có thể minh bạch sau ngày nó thành tài.
______________________________________________________
(*) Tương duyên: Sự tương quan giữa nhân quả và nhân duyên trên dương thành hoại diễn biến
của muôn loài (Phật học)
------------------------------------------------------------------------------
Anh hứa đi. Anh đừng vội vàng mà làm cho con thắc mắc và âu lo, ảnh hưởng tới việc học hành của nó đã đành mà nó sẽ phân vân không ít vì một sự thật mà nó không ngờ tới. Có điều nầy em muốn hỏi ý kiến anh là sau khi nó tốt nghiệp, liệu anh có cách nào làm cho con ở lại Mỹ được không?
Chuyện đó thì không khó. Chúng ta có nhiều cách mà cách dễ dàng nhứt mà Trang đang có trong tay, đó là nó vừa học giỏi vừa có thân nhân là công dân Mỹ bảo lãnh. Nhưng tại sao DT muốn nó ở lại đây trong khi tại quê nhà DT không ai phụng dưỡng?
Chuyện đó thì không khó. Chúng ta có nhiều cách mà cách dễ dàng nhứt mà Trang đang có trong tay, đó là nó vừa học giỏi vừa có thân nhân là công dân Mỹ bảo lãnh. Nhưng tại sao DT muốn nó ở lại đây trong khi tại quê nhà DT không ai phụng dưỡng?
Những điều em nói vừa rồi chỉ là bước đầu. Còn những bước kế tiếp anh sẽ biết sau bằng thơ, rõ ràng hơn. DT nói tới đây thì cũng là lúc QH và DH trở lại với vài món quà và vài tạp chí để DT dùng và đọc trên chặn đường dài mười mấy tiếng đồng hồ.
Rồi thì lúc chia tay cũng phải đến. Mẹ con, dì cháu bịn rịn, chảy nước mắt vì không biết có còn cơ may gặp lại hay không. Riêng tôi, không biết tâm trạng lúc đó ra sao khi hai bàn tay của DT nắm chặt lấy bàn tay phải của tôi như lần chót trước khi tôi di tản khỏi Huế chiều ngày 19-3-1975. Chỉ kịp vẫy ta chào, tiển một người “Hồng Nhan Bạc Phận” mà đến tuổi xế chiều, tai họa vẫn còn đuổi theo.
Khi máy bay cất cánh rồi, tôi thấy Thuyên như ưu tư một điều gì. Tôi ngoắc DH cùng lại đứng bên nó. Tôi nói với DH: Con có gia đình và an vui với hạnh phúc của mình, còn em của con, vừa lớn lên lại phải xa cha mẹ để du học tại xứ người, đó là hai sự kiện làm cho nó vừa lo âu vừa kém vui. Vậy bác đề nghị với Trang là cuối tuần, sắp xếp về nhà để sum họp với anh chị. Bác nghĩ là tình chị em ruột thịt cũng sẽ làm cho Thuyên vơi đi phần nào việc nhớ nhà. À mà bác quên hỏi Thuyên một điều khá quan trọng là trước khi rời Việt Nam, Thuyên đã có bạn gái chưa?
Thuyên lễ phép thưa: Thưa bác, cháu có bạn cùng học với nhau thôi chớ chưa có bạn thân. Má cháu chăn chăn, bà coi cháu như đứa bé lên năm; còn ba cháu thì không quan tâm gì tới việc gia đình nên cháu không dám làm điều gì khác hơn là lo học hành.
Cháu hiếu thảo như vậy cũng tốt. Bác hỏi thật nhé. Sau bao năm học ở đây, cháu có ý niệm thế nào về tương lai?
Mới đây, cháu nhận thức rằng học ở đây mà đem về bên nhà dùng thì trái khoáy, nó không xứng đáng với công của mình đầu tư vào việc học sáu bảy năm trời. Vì vậy nên hai chị em cháu đã bàn với nhau, hè nầy về thăm má và bàn chi tiết chuyện bảo lãnh để đoàn tụ.
Nếu bác nghe không lầm thì hình như cháu vừa mới nói là bàn chi tiết, như vậy có nghĩa là hai đứa đã thăm dò ý kiến của má rồi, phải không?
Thuyên lễ phép thưa: Thưa bác, cháu có bạn cùng học với nhau thôi chớ chưa có bạn thân. Má cháu chăn chăn, bà coi cháu như đứa bé lên năm; còn ba cháu thì không quan tâm gì tới việc gia đình nên cháu không dám làm điều gì khác hơn là lo học hành.
Cháu hiếu thảo như vậy cũng tốt. Bác hỏi thật nhé. Sau bao năm học ở đây, cháu có ý niệm thế nào về tương lai?
Mới đây, cháu nhận thức rằng học ở đây mà đem về bên nhà dùng thì trái khoáy, nó không xứng đáng với công của mình đầu tư vào việc học sáu bảy năm trời. Vì vậy nên hai chị em cháu đã bàn với nhau, hè nầy về thăm má và bàn chi tiết chuyện bảo lãnh để đoàn tụ.
Nếu bác nghe không lầm thì hình như cháu vừa mới nói là bàn chi tiết, như vậy có nghĩa là hai đứa đã thăm dò ý kiến của má rồi, phải không?
Mặc dù má cháu chưa trả lời dứt khoát nhưng cháu cũng đã nhận được một tín hiệu thuận lợi.
Bác xin dùng từ “nếu”. Nếu chuyện bảo lãnh để đoàn tụ thành sự thật thì ai đi, ai ở?
Ba của cháu, ông ấy là một cựu tướng của Bắc Việt và đã dang díu với một người đàn bà khác, nên cháu nghĩ là ông ấy sẽ không ra đi. Và nếu má và con có muốn ra đi thì ông ấy cũng đành thôi vì từ hơn mười năm qua, ông có ngó ngàng gì đến gia đình đâu. Sau nầy, khi đâu vào đấy thì lúc nào thuận tiện, cháu sẽ về thăm, cũng không sao.
Vậy bác hỏi thật Thuyên, cháu có cần bác giúp gì trong những việc chúng ta vừa nói không.? Tôi hỏi.
Thưa bác, chưa chớ không phải là không. Thuyên đáp.
Tự nhiên, tôi đưa hai tay lên vuốt đầu DH và Thuyên, như một người cha. Tôi nói: Không rõ do đâu mà bác cảm thấy như chúng ta có một thân tình nào đó, đang ràng buộc chúng ta. Vậy tại xứ lạ quê người, các con cần gì, cứ tin cho bác biết. Đừng ngại gì hết.
Viết lại vào dịp Giáng Sinh 1999
5-2-2000
Bác xin dùng từ “nếu”. Nếu chuyện bảo lãnh để đoàn tụ thành sự thật thì ai đi, ai ở?
Ba của cháu, ông ấy là một cựu tướng của Bắc Việt và đã dang díu với một người đàn bà khác, nên cháu nghĩ là ông ấy sẽ không ra đi. Và nếu má và con có muốn ra đi thì ông ấy cũng đành thôi vì từ hơn mười năm qua, ông có ngó ngàng gì đến gia đình đâu. Sau nầy, khi đâu vào đấy thì lúc nào thuận tiện, cháu sẽ về thăm, cũng không sao.
Vậy bác hỏi thật Thuyên, cháu có cần bác giúp gì trong những việc chúng ta vừa nói không.? Tôi hỏi.
Thưa bác, chưa chớ không phải là không. Thuyên đáp.
Tự nhiên, tôi đưa hai tay lên vuốt đầu DH và Thuyên, như một người cha. Tôi nói: Không rõ do đâu mà bác cảm thấy như chúng ta có một thân tình nào đó, đang ràng buộc chúng ta. Vậy tại xứ lạ quê người, các con cần gì, cứ tin cho bác biết. Đừng ngại gì hết.
Viết lại vào dịp Giáng Sinh 1999
5-2-2000
Trước Giờ Tạm Biệt - Ca Sĩ Phương Diễm Hạnh
Video Minh Họa
Chiếc Bóng Bên Đường - Ca sĩ Thanh Lan